This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2016

Một số kĩ thuật tối ưu hoá mã nguồn Java - Phần 1

Trong Java việc tối ưu hoá mã nguồn Java là công việc rất quan trọng, nó không chỉ giúp mã nguồn thông thoáng hơn, giúp tiêu tốn ít tài nguyên hệ thống hơn, mà các kĩ thuật được trình bày dưới đây sẽ giúp nâng cao hiệu suất (performance) làm việc của Java khi chạy chương trình!
Một LTV Java có kinh nghiệm luôn coi việc tối ưu hoá mã nguồn như là 1 phần quan trọng của công việc lập trình, trang bị những kĩ thuật, thủ thuật tối ưu sẽ thể hiện một LTV có trình độ, và coi nó như 1 kĩ năng không thể thiếu khi làm việc với Java.
Các kĩ thuật dưới đây không phải là những giải thuật toán học cao siêu, cũng không phải triển khai 1 cách phức tạp, đôi khi chúng rất dễ để thực hiện nhưng rất nhiều LTV không để ý hoặc chưa biết cách để triển khai nó.

I. Các vòng lặp

1. Tránh việc gọi phương thức trong vòng lặp

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Nếu có thể hãy tránh sử dụng cuộc gọi tới các phương thức như length(), size() ... trong vòng lặp, nó sẽ giúp cải thiện hiệu suất
  • Lý do: Việc sử dụng các phương thức trên trong vòng lặp sẽ gây ra rất nhiều cuộc gọi giống nhau và không cần thiết làm tăng xử lý cho chương trình
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Avoid_method_calls_in_loop_violation
{
public void method()
{
        String str = "Hello";
        for (int i = 0; i < str.length(); i++)   // Vi Phạm
        {
          i++;
        }
}
}
Nên được viết thành:
Java
package com.rule;
class Avoid_method_calls_in_loop_correction
{
    public void method()
    {
        String str = "Hello";
        int len = str.length();     // Đẩy size ra bên ngoài vòng lặp
        for (int i = 0; i < len ; i++)
        {
            i++;
        }
 }
}

2. Đưa các tính tóan bất biến ra ngoài vòng lặp

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Các mã nguồn luôn cho ra một kết quả giống nhau qua từng lần lặp nên được di chuyển ra ngoài vòng lặp
  • Lý do: Các tính tóan cho ra kết quả giống nhau, bất biến là không cần thiết phải gọi lại nhiều lần gây ra sự chậm trễ cho chương trình
Ví dụ 1:
Java
package com.rule;
class Loop_invariant_code_motion_violation
{
    public void method(int x, int y, int[] z)
    {
        for(int i = 0; i < z.length; i++)
        {
            z[i] = x * Math.abs(y);     // Vi phạm
        }
    }
}
Nên được viết thành:
Java
package com.rule;
class Loop_invariant_code_motion_correction
{
    public void method(int x, int y, int[] z)
    {
                    int t1 = x * Math.abs(y);       // Điều chỉnh
        for(int i = 0; i < z.length; i++)
        {
            z[i] = t1;
        }
    }
}
Ví dụ 2:
Java
public NamedElement find(NamedElement namedElement)
{ 
     for (NamedElement otherNamedElement : getNamedElements()) { 
          if (namedElement.getName().equals(otherNamedElement.getName())) { //Vi phạm
               return otherNamedElement; 
          }
     } 
               return null; 
}
Nên viết thành:
Java
public NamedElement find(NamedElement namedElement)
{ 
     String name = namedElement.getName(); // Chỉnh sửa
     for (NamedElement otherNamedElement : getNamedElements()) { 
         if (name.equals(otherNamedElement.getName())) { // Chỉnh sửa
             return otherNamedElement; 
         }
     } 
             return null; 
}
Tham khảo:
  • Java Performance Tunning by Jack Shirazi
  • The Art of Java Performance Tuning by Ed Merks (Page 20)

3. Tránh nối chuỗi (String) trong vòng lặp

  • Mức độ nghiêm trọng: Rất nghiêm trọng
  • Nguyên tắc: Sử dụng StringBuffer hoặc StringBuilder thay vì sử dụng nối chuỗi String trong vòng lặp
  • Lý do: String là 1 đối tượng bất biến, mỗi khi nối chuỗi gây ra tạo mới đối tượng String, số lần lặp càng lớn càng gây chậm trễ chương trình, tốn tài nguyên xử lý
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class String_concatenation_violation
{
    public void concatValues()
    {
        String result = "";
        for (int i = 0; i < 20; i++) 
        {
              result += getNextString();                // Vi phạm
        }
    }
}
Nên được viết thành:
Java
package com.rule;
class String_concatenation_correction
{
    public void concatValues(String strMainString, String strAppend1, String strAppend2)
    {
        String result = "";
StringBuilder builder = new StringBuilder();
for (int i = 0; i < 20; i++) 
 {
     builder.append(getNextString()); // Sử dụng StringBuilder
 }
 result = buffer.toString(); 
 }
}

4. Sử dụng biến tạm thay cho truy cập giá trị của phần tử trong mảng

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Sử dụng biến tạm để lưu trữ dữ liệu và tính toán thay vì truy cập tới giá trị của phần tử trong mảng
  • Lý do: Việc truy cập tới 1 phần tử trong mảng luôn làm tốn chi phí hơn là truy cập tới 1 biến tạm bởi vì máy ảo Java (VM) phải kiểm tra các ràng buộc truy cập tới phần tử đó cũng như phải kiểm tra độ dài của mảng
Ví dụ:
Java
public void setUpArray(int REPEAT) {
     for(int i = 0; i < REPEAT; i++) {
        countArr[0] += 10; // VI PHẠM
     }     
}
Nên viết thành:
Java
public void setUpArray(int REPEAT) {
     int tempCound = coundArr[0]; // ĐẨY VÀO BIẾN TẠM
     for(int i = 0; i < REPEAT; i++) {
       tempCound += 10;  // SỬA CHỮA
        countArr[0] = tempCount; // SỮA CHỮA
     }     
}
Tham khảo:
  • Java Performance Tunning 2nd, by Jack Shirazi (Chapter 7 - Page: 194)

5. Sử dụng Int

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Sử dụng kiểu dữ liệu int cho các chỉ số thay vì sử dụng các kiểu dữ liệu khác
  • Lý do: Sử dụng kiểu dữ liệu Int cho các chỉ số là nhanh nhất so với việc sử dụng bất kì kiểu dữ liệu nào khác. VM được tối ưu để sử dụng kiểu Int.
Ví dụ:
Sử dụng int :
Java
        for(int i = 0; i < Repeat; i++)
là nhanh hơn so với sử dụng bất kì kiểu dữ liệu nào khác
Java
     for(long i = 0; i < Repeat; i++)
     for(double i = 0; i < Repeat; i++)
     for(char i = 0; i < Repeat; i++)
Tham khảo:
  • Java Performance Tunning 2nd, by Jack Shirazi (Chapter 7 - 7.1.4)

6. Đặt Try Catch ra ngoài vòng lặp

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Đặt các khối Try/Catch/Finally bên trong vòng lặp có thể làm chậm quá trình thực thi của chương trình
Ví dụ:
Java
package com.rule;
import java.io.InputStream;
import java.io.IOException;
class Place_try_catch_out_of_loop_violation
{
    void method (InputStream is)
     {
         int ZERO = 0;
         int TEN = 10;
         int count = 0;
         for (int i = ZERO; i < TEN; i++)
         {
             try            // VIOLATION
             {
                 count += is.read();
             }
             catch (IOException ioe)
             {
                ioe.printStackTrace();
             }
         }
 }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
import java.io.InputStream;
import java.io.IOException;
class Place_try_catch_out_of_loop_correction
{
  void method (InputStream is)
     {
         int ZERO = 0;
         int TEN = 10;
         int count = 0;
         try            // Bao Try Catch ra ngoài vòng lặp
         {
             for (int i = ZERO; i < TEN; i++)
             {
                     count += is.read ();
             }
         }
         catch (IOException ioe)
         {
            ioe.printStackTrace();
         }
 }
}

II/ Làm việc với chuỗi

1. Sử dụng String.length() để kiểm tra chuỗi rỗng (empty)

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Sử dụng String.length() để kiểm tra chuỗi rỗng thay vì sử dụng String.equal()
  • Lý do: Phương thức String.equals () là quá mức cần thiết để kiểm tra một chuỗi rỗng. Kiểm tra độ dài của chuỗi là 0 sử dụng String.length() sẽ nhanh hơn.
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Use_String_length_to_compare_empty_string_violation
{
    public boolean isDocEmpty()
    {
                return doc.getContents().equals("");      // VI PHẠM
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
class Use_String_length_to_compare_empty_string_correction
{
    public boolean isDocEmpty()
    {
                return doc.getContents().length() == 0;     // SỬ DỤNG LENGTH
    }
}
Tham khảo:

2. Sử dụng StringBuffer hoặc StringBuilder (Tham khảo 3. Tránh nối chuỗi (String) trong vòng lặp)

3. Sử dụng equalsIgnoreCase

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Sử dụng phương thức equalsIgnoreCase() để so sánh chuỗi mà không phân biệt hoa thường
Ví dụ:
Java
public class Use_String_equalsIgnoreCase_violation
{
    public void method()
    {
        String str = "APPPERFECT";
        String str1 = "appperfect";
        if(str1.toUpperCase().equals(str))      // Violation
        {
            System.out.println("Strings are equals");
        }   
    }
}
Nên được viết thành:
Java
package com.rule;
public class Use_String_equalsIgnoreCase_correction
{
    public void method()
    {
        String str = "APPPERFECT";
        String str1 = "appperfect";
        if(str1.equalsIgnoreCase(str))      // Correction.
        {
            System.out.println("Strings are equals");
        }   
    }
}

4. Tránh sử dụng startsWith()

  • Mức độ nghiêm trọng: Rất Cao
  • Nguyên tắc: Tránh gọi String.startsWith () vì lý do hiệu suất
  • Lý do: Trong native mã nguồn Java String.startsWith () xử lý khá nhiều thứ truớc khi cho ra kết quả, vì vậy giới hạn vùng kiểm tra bằng cách kiểm tra ký tự ở vị trí đầu tiên
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Avoid_startsWith_violation
{
    public void method()
    {
        String sTemp="Data";
        if (sTemp.startsWith("D")) // VIOLATION
        {
            sTemp = "data";
        }
    }
}
Nên được viết thành
Java
package com.rule;
class Avoid_startsWith_correction
{
    public void method()
    {
        final int ZERO = 0;
        final char D = 'D';
        String sTemp="Data"; 
        if (sTemp.length () > ZERO && sTemp.charAt(ZERO) == D)  // CORRECTION
        {
            sTemp = "data"; 
        }
    }
}

III/ Các trường hợp khác

1. Sử dụng System.arraycopy()

  • Nguyên tắc: Sử dụng System.arraycopy() cho việc sao chép mảng
  • Lý do: Sử dụng System.arraycopy() là nhanh hơn so với việc sử dụng vòng lặp để sao chép 1 mảng
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Use_System_arrayCopy_violation
{
    public int[] copyArray (int[] array)
    {
        int length = array.length;
        int[] copy = new int [length];
        for(int i=0;i<length;i++)
        {
            copy [i] = array[i];        // VIOLATION
        }
        return copy;
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
class Use_System_arrayCopy_correction
{
    public int[] copyArray (int[] array)
    {
        final int ZERO = 0;
        int length = array.length;
        int[] copy = new int [length];
        System.arraycopy(array, ZERO, copy, ZERO, length);      // CORRECTION
        return copy;
    }
}

2. Tránh lặp lại việc Casting (ép kiểu)

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Chỉ ép kiểu 1 lần sau đó giữ tham chiếu của nó
  • Lý do: Việc lặp đi lặp lại nhiều lần việc ép kiểu khiến việc xử lý chậm trễ hơn
Ví dụ:
Java
package com.rule;
import java.awt.Component;
import java.awt.TextField;
class Avoid_repeated_casting_violation
{
    public void method(Component comp)
    {
        ((TextField) comp).setText("");       // VIOLATION
        ((TextField) comp).setEditable(false);  // VIOLATION
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
import java.awt.Component;
import java.awt.TextField;
class Avoid_repeated_casting_correction
{
    public void method(Component comp)
    {
        final TextField tf = (TextField) comp;  // CORRECTION
        tf.setText("");
        tf.setEditable(false);
    }
}
Tham khảo: Java Performance tunning by Jack Shirazi

3. Hủy các cấu trúc if else không cần thiết

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Đơn giản hóa để nâng cao hiệu quả của mã và giảm kích thước của nó.
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Use_ternary_operator_correction
{
    public boolean test(String value)
    {
        if(value.equals("AppPerfect"))        // VIOLATION
        {
            return true;
        }
        else
        {
            return false;
        }
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
class Use_ternary_operator_correction
{
    public boolean test(String value)
    {
          return value.equals("AppPerfect"); // CORRECTION
        }
 }

4. Luôn sử dụng static với hằng số

  • Mức độ nghiêm trọng: Bình thường
  • Nguyên tắc: Nên khai báo static với các biến là hằng số
Ví dụ:
Java
package com.rule;
public class Always_declare_constant_field_static_violation
{
    final int MAX = 1000; // VIOLATION
    final String NAME = "Noname"; // VIOLATION
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
public class Always_declare_constant_field_static_correction
{
    static final int MAX = 1000; // CORRECTION
    static final String NAME = "Noname"; // VIOLATION
}

5. Tránh check null truớc khi sử dụng so sánh InstanceOf

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Không nên check NULL truớc khi so sánh InstanceOf
  • Lý do: Không cần thiết phải check NULL trong truờwng hợp này, InstanceOf chỉ được so sánh khi đối tượng != NULL, nên việc so sánh là không cần thiết
Ví dụ:
Java
package com.rule;
public class Avoid_null_check_before_instanceof_violation
{
    public void method(Object o)
    {
        if(o != null &&  o instanceof Object)       // Violation.
        {
            // Do Something.
        }   
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
public class Avoid_null_check_before_instanceof_correction
{
    public void method(Object o)
    {
        if(o instanceof Object)     // Correction
        {
            // Do Something.
        }   
    }
}

6. Sử dụng mảng dữ liệu nguyên thủy

  • Mức độ nghiêm trọng: Trung Bình
  • Nguyên tắc: Sử dụng mảng dữ liệu nguyên thủy thay vì sử dụng Collection
  • Lý do: Collection có thể chứa trong nó nhiều kiểu dữ liệu (kiểu object, nguyên thủy ...), vì vậy sử dụng mảng nguyên thủy giúp nâng cao hiệu suất chương trình
Ví dụ:
Java
package com.rule;
import java.util.Vector;
public class Use_array_of_primitive_type_insteadof_collection_violation
{
    public void method()
    {
        Vector vInt = new Vector(); // VIOLATION
        vInt.add(new Integer(1));
        vInt.add(new Integer(2));
        vInt.add(new Integer(3));
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
public class Use_array_of_primitive_type_insteadof_collection_correction
{
    public void method()
    {
        int[] arrInt = new int[3]; // CORRECTION
        arrInt[0] = 1;
        arrInt[1] = 2;
        arrInt[2] = 3;
    }
}

7. Tránh show Debug code

  • Mức độ nghiêm trọng: Thấp
  • Nguyên tắc: Nên check Debug truớc khi show Log
  • Lý do: Việc Debugger vốn bản chất chỉ dành cho nhà phát triển, vì vậy hãy loại bỏ hoặc kiểm tra chúng truớc khi thực thi
Ví dụ:
Java
package com.rule;
public void Avoid_debugging_code_violation
{
    private int count =0;
    public int getCount()
    {
        //...
        System.out.println("count ="+count);  // Violation
        return count;
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
public void Avoid_debugging_code_correction
{
    private int count =0;
    public int getCount()
    {
        if (Debug.ON) 
        {
            System.out.println("count ="+count);  //correction
        }
        return count;
    }
}

8. Tránh việc sử dụng Thread.sleep()

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Không nên sử dụng Thread.sleep vì lý do hiệu suất
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Avoid_call_to_Thread_sleep_violation
{
    public void doTest() throws InterruptedException
    {
        //......
        Thread.sleep(100); // VIOLATION
        //......
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
class Avoid_call_to_Thread_sleep_correction
{
    public void doTest()
    {
        //......
        this.wait(100); // CORRECTION
        //......
    }
}

8. Tránh sử dụng String.charAt()

  • Mức độ nghiêm trọng: Cao
  • Nguyên tắc: Sử dụng mảng char[] thay vì sử dụng String.charAt();
Ví dụ:
Java
package com.rule;
class Avoid_using_String_charAt_violation
{
    public void method(String str)
    {
        for(int i=0; i<str.length(); i++)
        {
            System.out.println(str.charAt(i));  // VIOLATION
        }
    }
}
Nên viết thành:
Java
package com.rule;
class Avoid_using_String_charAt_correction
{
    public void method(String str)
    {
        char[] carr = str.toCharArray();        // CORRECTION
        for(int i=0; i<carr.length; i++)
        {
            System.out.println(carr[i]);        // CORRECTION
        }
    }
}
Tham khảo:

Trong bài này có sử dụng tài liệu tham khảo:

Nguồn: 

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Nghề làm thầy giáo có khó lắm không?

Trong xã hội, cũng có những nghề, chỉ ngay sau khi chia tay, người ta đã không còn muốn nghĩ về nó nữa, nhưng nghề giáo thì không như thế. Tôi được biết trong lĩnh vực đặc biệt này, có những người thầy, dù đã chính thức nghỉ hưu hàng chục năm nay, vậy mà thiên chức nhà giáo trong họ dường như vẫn vẹn nguyên. Họ là những bông hoa đẹp rất đáng được trân trọng trong xã hội.

Nghề giáo có “nhàn nhã”, “ăn trắng, mặc trơn”? 
Không phải ngẫu nhiên, trong xã hội, chỉ có hai loại nghề được người ta gọi là thầy: thầy giáo và thầy thuốc. Vinh quang là thế, nhưng từng có thời gian dài, nghề làm thầy vẫn bị xã hội “quay lưng”: “Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”. Rồi lại có thời kì, học sinh đổ xô vào trường Sư phạm, không hẳn vì say mê, tâm huyết với nghề, mà vì vào đó sẽ không phải đóng học phí, mà ra trường cũng dễ kiếm việc làm. Nói chung đây là một cái nghề thiếu ổn định. Hoặc cũng có thể là khó, không phải ai cũng có thể làm được.
Vậy làm nghề thầy giáo có khó thật không? Bản thân tôi, phải đến tận khi chính thức hoàn tất gần 40 năm sự nghiệp của mình, mới tìm được câu trả lời tạm coi là có thể chấp nhận được: làm nghề thầy giáo với người này có thể là dễ, nhưng với một số người khác thì đúng là khó. Nói dễ bởi nhìn bề ngoài, so với nhiều nghề nghiệp khác, nghề nhà giáo không cần đến "cơ bắp”, công việc có vẻ “nhàn nhã”, “ăn trắng, mặc trơn”: không phải lao động chân tay, không phải đến công sở hàng ngày, được nhiều người trong xã hội trọng vọng” (không “trọng vọng” sao được gọi là thầy giáo?
Nhưng làm nghề giáo cũng thật khó. Bởi lẽ, một khi đã chấp nhận công việc này, cũng có nghĩa phải chấp nhận sự hi sinh: người ta không thể giàu có khi làm nghề thầy giáo (trừ một số người giỏi giang, xuất chúng). Trong dân gian từ lâu đã tồn tại câu cửa miệng “phi thương bất phú”.
Từng gắn bó với nghề giáo gần như cả đời, tôi dám khẳng định, trong xã hội ta, ít có ai làm nghề này mà lại giàu có bao giờ (hoặc những người thầy giáo mà giàu có hẳn họ phải làm thêm, hoặc làm một việc “mờ ám” gì đó).
Gần đây, trên báo mạng tôi có đọc được thông tin, một nghiên cứu ở Đại học Mĩ cho rằng thầy giáo đại học Việt Nam có thể kiểm hàng tỉ mỗi năm. Bản thân tôi cũng biết, có vài ba ông thầy (nhờ đi dạy thêm, hoặc có “mánh mung” gì đó), mà hàng năm kiếm được tiền tỉ, có ô tô, nhà lầu. Nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt. Còn nói chung đa số các thầy cô giáo trong xã hội ta còn rất nghèo, trong khi áp lực xã hội mà họ phải chịu đựng là vô cùng lớn. Điều này có lí do của nó, nghề thầy giáo (và cả thầy thuốc nữa), luôn chịu sự phê phán, “săm soi” của hàng triệu con người, của xã hội. Đơn giản thôi vì trong cuộc sống thường nhật gia đình nào mà chả có người đi học (và chữa bệnh).
Đôi khi phải biết tỏ ra “đạo đức giả”
Quả nhiên làm nghề thầy giáo thật là khó, vậy nên bất kì ai, khi đã dấn thân vào lĩnh vực, cũng có nghĩa là phải biết chấp nhận hi sinh, phải biết làm gương cho học trò, phải có lòng thương yêu, và đôi khi cũng phải biết tỏ ra “đạo đức giả” nữa, tức là phải “tự dối lòng” mình trước một điều gì ham muốn ghê gớm lắm, mà vẫn cứ buộc phải “dằn lòng mình” xuống.
Đứng trước những ham muốn vật chất, những dục vọng tầm thường, nghề thầy giáo chính là “vật cản” để người thầy giáo không bị cuốn theo. Người thầy giáo, cũng giống như thầy thuốc, khi đã bước chân vào nghề, là đã mang mang theo trong suốt cuộc đời mình “lời thề Hypocrat”: không chỉ là tấm gương về đạo đức, họ còn phải là một tấm gương về chuyên môn.
Tôi không quan niệm chuyên môn ở đây có nghĩa là phải trang bị cho mình thật nhiều bằng cấp (mặc dù đây cũng là một phần trách nhiệm của họ), mà là phải thực sự đào sâu vào lĩnh vực chuyên sâu của mình, phải say mê và tâm huyết, phải có đủ lòng nhiệt tình để khơi gợi niềm đam mê ở học trò, phải sáng tạo - “sáng tạo”, nói như Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, người thầy vô cùng kính trọng của tôi và nhiều thế hệ sinh viên khoa Ngữ Văn, để không “biến học sinh thành bản sao của mình”. Một thế giới hội nhập không cần đến những “bản sao” như thế.
Quả thật, có một thời gian dài, Giáo sư Đỗ Đức Hiểu sống ngay giữa trung tâm Hà Nội (26 phố Hàng Bài), mà hệt như một người lạc đến từ một hành tinh khác. Thầy từ bỏ mọi ham muốn (vật chất) của mình để đam mê hết lòng với những trang sách, với việc đào tạo sinh viên, “ngô nghê” trước thế giới kim tiền, thậm chí có lúc trong túi riêng không có nổi 50 ngàn đồng cho một bữa ăn hàng ngày vốn đã rất đạm bạc.
Trong cuộc đời làm thầy (và cả làm trò) của mình, tôi từng được chứng kiến nhiều tấm gương thầy cô giáo ngay gần bên tôi tại khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp trước đây: Giáo sư Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Văn Khỏa…, với những việc làm dù rất bình thường và dung dị của họ, mà cứ khiến tôi phải suy nghĩ mãi. Chính những việc làm và suy nghĩ dung đị đó, có những điều tôi bắt chước được, và có những điều không, nhưng tất cả đều đọng lại trong tôi lòng biết ơn sâu sắc, vì nhờ đó mà nhân cách nghề nghiệp của của tôi được hoàn thiện dần.
Những bông hoa tươi thắm kính tặng thầy cô nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Những bông hoa tươi thắm kính tặng thầy cô nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

Trước sinh viên, mỗi người thầy đã được coi như một “vị thánh sống”
Làm nghề thầy giáo thật không dễ, dù ngay cả khi mình đã được trang bị đầy đủ kiến thức để truyền thụ cho học trò. Từng có một thâm niên bề dày giảng dạy nhiều năm “biết mười dạy một”, nhưng trước mỗi giờ lên lớp, người thầy giáo vẫn không được phép chủ quan, vẫn phải chủ động, nắm chắc từng chi tiết kiến thức trước khi lên lớp.
Tôi nhớ cách đây rất lâu, cỡ những năm 77, 78, tình cờ một lần tôi được phân công đi dạy cho một lớp tại chức ở Hải Dương cùng Giáo sư Đỗ Đức Hiểu. Lúc đó, thầy Hiểu là phó chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, phụ trách chuyên môn, lại cùng tổ chuyên môn Văn học phương Tây với tôi.
Vào cái đêm hôm trước ngày có giờ dạy trên lớp, vì lo cho sức khỏe tốt nhất sáng hôm sau, tôi đã đi ngủ sớm. Nhưng tôi rất ngạc nhiên, khi đã chợp mắt được một giấc, bất chợt tỉnh dậy, tôi vẫn thấy phía giường người thầy của tôi, có vẻ như vẫn còn le lói ánh đèn: thầy chưa đi ngủ, thầy đang lật giở một cuốn sách, có vẻ như nhẹ nhàng để không ảnh hưởng đến giấc ngủ của người bên cạnh. Khi tôi cất lời hỏi: thầy ơi, sao giờ này thầy vẫn còn chưa đi nghỉ, ngày mai mình có giờ giảng sớm cơ mà? Ông thầy đã từng có ba mươi năm giảng dạy, buổi tối hôm đó khẽ khàng trả lời, khiến tôi về sau này cứ “ngượng” mãi: anh Hinh ơi, anh cứ ngủ đi, tôi thức thêm một chút ngó lại bài giảng ngày mai cho lớp.
Một người thầy đã từng có gần ba mươi năm đứng lớp (ở thời điểm đó), đã làu làu bài giảng của mình, vậy mà vào trước hôm lên lớp vẫn cẩn thận xem lại từng trang giáo án đã cho tôi một “bài học” thấm thía trong nghề dạy học: người thầy không bao giờ được cho phép mình có quyền ”sơ suất’ trước sinh viên, bởi trước sinh viên, mỗi người thầy đã được coi như một “vị thánh sống”, luôn luôn nói những điều đúng đắn và chính xác.
Những sai sót không đáng có của người thầy trong giảng dạy đôi khi sẽ để lại những “ám ảnh” rất lâu trước học trò. Sự tắc trách của người thầy giáo có thể không gây nguy hiểm “chết người” như thầy thuốc, nhưng nó cũng để lại những di hại không kém: vì những kiến thức được truyền thụ sai mà người học trò có thể sẽ mất đi niềm tin, hoặc có thể sẽ dẫn đến những “lầm lạc” trong công việc sau này, ảnh hưởng lớn đến xã hội. Quả là làm nghề thầy giáo không hề dễ.
Tôi nghĩ, ở khoa Văn và ở Trường ĐH Tổng hợp trước đây cũng như Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn hiện nay có nhiều tấm gương thầy cô giáo (mà tôi không thể kể hết tên ở đây), họ đã cống hiến suốt cả một đời, những năm về già cũng có người “khá giả” có người tạm coi là “tiềm tiệm”, ít ai giàu có, vậy nên chấp nhận làm nghề thầy giáo thật không dễ dàng gì. Nhưng nếu bảo rằng, giờ đây, nếu như có một phép thần kì diệu, cho phép được lựa chọn lại, tôi cũng sẽ chọn nghề thầy giáo.
Vinh danh chữ “Thầy”
Suy cho cùng, làm nghề thầy giáo, cũng là một hạnh phúc, hay nói cách khác, là một “tỉ phú”, tỉ phú về tinh thần. Tôi xin lấy thâm niên gần 40 năm dạy học của mình khẳng định như vậy. Các bạn hãy kiên nhẫn nghe tôi giải thích…
Thứ nhất, ở trên tôi có nói, trong xã hội có rất nhiều nghề, nhưng chỉ có hai nghề được gọi là thầy: thầy giáo và thầy thuốc, đó là một hạnh phúc; thứ hai, làm nghề thầy giáo, chí ít mình cũng có được niềm vui dạy học hàng ngày, được mang những kiến thức ít ỏi của mình “trao” cho nhiều thế hệ học sinh, được nhìn thấy họ trưởng thành và đóng góp cho gia đình và xã hội. Tôi xin kể lại một vài chuyện nho nhỏ vui vui. Cách đây đã lâu, có một lần tôi đưa anh bạn Nguyễn Huy Hoàng (hiện đang ở Nga) vào cấp cứu tại một bệnh viện. Anh bị đau ruột thừa.
Trong lúc rất vội vã đẩy anh đang nằm trên cáng cấp cứu vào phòng mổ, bất ngờ cả tôi và Nguyễn Huy Hoàng giật mình: “Em chào thầy ạ!”. Chúng tôi nhìn lên, một người phụ nữ đã trung tuổi, người vừa chào, tự giới thiệu chị là học trò của các thầy. Hôm ấy chị có việc vào viên thăm người thân. Nhìn thấy thầy giáo đang nằm trên cáng cấp cứu tự nhiên bật ra tiếng chào kính trọng (một niềm vui nho nhỏ).
Lại một lần khác, đang trên đường đến lớp, khi đi ngang qua một ngã tư, vì buổi học đã sát đến giờ, tôi tranh thủ “vượt” nhanh khi đã có tín hiệu đèn đỏ. Một anh cảnh sát dừng xe tôi lại với vẻ mặt rất nghiêm trọng, việc đầu tiên là hỏi giấy tờ. Hôm ấy tôi không mang giấy tờ tùy thân theo, nên đã nhanh nhảu nói với anh: “Tôi xin lỗi, anh cứ ghi phạt tôi đi, bao nhiêu cũng được nhưng nhanh lên một chút, tôi sắp đến giờ vào lớp”. Anh cảnh sát khi nghe tôi nói “sắp đến giờ vào lớp”, biết tôi là thầy giáo, đã ngay lập tức đổi thái độ, nói với tôi: “Vậy thì thầy đi nhanh lên, lần sau thầy chú ý cho một chút”. Không có tờ biên phạt nào cả.
Một lần khác nữa cách đây 20 năm, có lần tôi vào thỉnh giảng ở khoa Ngữ Văn, Đại học Khoa học Huế. Ngay buổi học đầu tiên, tôi chứng kiến một cảnh tượng bất ngờ: cả một “rừng” học trò gái phía dưới nhất loạt mặc áo dài trắng, tôi hỏi “sao thế các em?”, cả rừng hoa màu trắng ấy nhất loạt trả lời: “Vì thầy đó thầy ạ”. Tôi xúc động lắm. Về sau hỏi ra mới được biết, vì tôi là thầy giáo ngoài Bắc vô thỉnh giảng, lâu rồi mới có một thầy phía ngoài vào đây, học trò đã tự động bảo nhau mặc áo dài trắng lên lớp cho thầy bất ngờ…
Quả là, làm nghề thầy giáo thật hạnh phúc, vì trong đời mình được gặp vô khối những “niềm vui nho nhỏ như vậy”. Không phải ngẫu nhiên dân gian nhiều đời nay đã từng tồn tại những câu vinh danh người thầy: “Không thầy đố mày làm nên”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (“Một chữ cũng nhờ thầy, nửa chữ cũng nhờ thầy”), “Muốn sang thì bắc cầu Kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”…
Thế đấy, đó là tất cả những gì tôi tích lũy được từ nghề làm thầy trong suốt gần 40 năm qua. Thế hệ chúng tôi thời ấy việc chọn nghề thực ra không mấy quan trọng. Nhưng ngày nay thì khác. Tôi biết, các bạn trẻ bây giờ, không phải ở chỗ nào cũng ưu tiên lựa chọn nghề thầy giáo. Bây giờ xã hội “thực dụng” hơn, việc lựa chọn nghề cũng nghiêng hơn về phía “vật chất”, giá trị tinh thần trở nên mong manh. Thêm nữa, vì cuộc cạnh tranh khốc liệt của đồng tiền, trong môi trường giáo dục dù vẫn tồn tại  nhiều tấm gương sáng, vẫn còn không ít “tấm gương tối”.
Thế nhưng dù sự thế có xoay vần thế nào, tôi nghĩ nghề thầy giáo vẫn luôn cần thiết, quan trọng và thiêng liêng với nhiều người. Sẽ không có một xã hội tốt, nếu như không có những người thầy tốt.
Trần Hinh - Dantri
Chủ nhiệm Bộ môn Nghệ thuật học (Khoa Văn học)


Trường ĐH Khoa học, Xã hội & Nhân văn - ĐH Quốc gia Hà Nội

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Tin tức có hại cho bạn

Lời người dịch: Xã hội ngày nay tràn ngập thông tin với đủ loại từ báo chí, tạp chí cho đến các tập san, các bài phê bình và bình luận, các nghiên cứu khoa học và tiểu luận cho đến sách. Báo chí hiện nay hẳn nhiên là một kênh thông tin quan trọng mà hầu hết mọi người vẫn thường xuyên theo dõi. Tuy vậy, báo chí cũng có 2 loại thông tin cơ bản : những bài phóng sự điều tra và những tin tức thuần túy. Bài viết này để cập đến tác hại của tin tức như một bộ phận nhỏ của thông tin nhưng chiếm đa số sự chú ý của người dân.

—————————-
Trong vài thập kỷ qua , những người có cuộc sống khá giả trong xã hội phương Tây đã bắt đầu nhận ra sự nguy hại của việc tiêu thụ thực phẩm bừa bãi : chúng gây ra các bệnh béo phì, tiểu đường… Riêng ở Mỹ, hơn 1/3 dân số mắc bệnh béo phì. Nó đã trở thành vấn nạn nhức nhối với những người dân không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước phát triển nói chung. Họ đã bắt đầu khắt khe hơn với vấn đề thực phẩm và cố gắng thay đổi chế độ ăn uống của mình : quan tâm xem hàng ngày mình ăn gì, loại thức ăn đó chứa nhiều đường không, chứa bao nhiêu kcal… Ở 1 khía cạnh khác, chúng ta cũng đang sống ở trong thời kỳ quá dư thừa về thông tin, nhưng hầu hết chúng ta chưa hiểu về hệ quả của việc dư thừa đó với tâm trí của mình. Thực sự thì ảnh hưởng của tin tức đối với tư duy cũng tương đồng với ảnh hưởng của chất đường đối với cơ thể. Chúng đều dễ “tiêu hóa”. Truyền thông cho chúng ta ăn từng mẩu “tin tức bọc đường” nho nhỏ, chẳng gây ra ảnh hưởng nguy hại gì nhãn tiền để ta có thể ngay lập tức nhận ra, và ta dễ dàng phớt lờ và tiếp tục nuốt chúng. Tiêu hóa từng mẩu nhỏ một, ta sẽ chẳng có cảm giác chán ăn hay bội thực. Điều đó khác xa với việc đọc những cuốn sách hoặc các bài viết dài trên tạp chí, nơi hàm lượng thông tin đậm đặc. Chúng ta có thể tiêu thụ một số lượng vô hạn của các mẩu tin vắn, và đó giống như là những viên kẹo dành cho trí não. Hôm nay, chúng ta đã đạt đến kết quả tương đồng với cái chúng ta đã đến cách đây 20 năm trong lĩnh vực thực phẩm. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng tiêu thụ thông tin không đúng cách có thể độc hại thế nào.
Tin tức gây lệch lạc
Lấy ví dụ sự kiện sau đây (mượn từ Nassim Taleb). Một chiếc xe lái qua một cây cầu, và cây cầu sập. Giới truyền thông tập trung vào điều gì? Xe. Người trong xe. Nơi ông ta đến. Nơi ông dự định đi . Trải nghiệm ông đã phải trải qua trong vụ tai nạn (nếu còn sống). Nhưng tất cả chúng chẳng đáng để chúng ta phải bận tâm nhiều. Thế thì cái gì đáng để bận tâm? Đó là tại sao câu cầy sập, đó mới chính là mối nguy hiểm tiềm tàng, có thể đang ẩn nấp trong các cây cầu khác nữa. Chiếc xe ấy hào nhoáng, nó gây ấn tượng cảm xúc mạnh, và nhân vật chính là một con người chứ không phải một vật vô tri khác. Thế nhưng điều quan trọng nhất đó chính là việc khai thác khía cạnh đó để đưa tin nhàn và tốn ít chi phí hơn nhiều so với việc đi phân tích các cây cầu.
Tin tức làm chúng ta bị lệch lạc hoàn toàn trong việc đánh giá cái gì là nguy hại và cái gì thì không. Chủ nghĩa khủng bố bị phóng đại thái quá. Stress do làm việc quá sức thì bị xem nhẹ. Ảnh hưởng của sự sụp đổ của các ngân hàng lớn thì bị thổi phồng. Trách nhiệm của những nhà dự báo kinh tế thì bị chẳng được nhắc đến. Người ta xem trọng phi hành gia quá mức. Còn y tá thì bị đánh giá thấp. Danh sách cứ tiếp diễn mãi như vậy. Bạn có nghĩ ra trong những tin tức mà giới truyền thông VN khai thác và mổ xẻ thời gian gần đây, cái gì bị thổi phồng quá mức mà những thông tin quan trọng khác bị phớt lờ không? Cứu nạn máy bay Malaysia gặp nạn? Vụ Huyền Chíp? Hôi của?
Chúng ta thường thiếu lý trí, sự bình tâm và dễ dàng bị truyền thông dắt mũi. Chứng kiến trực tiếp một vụ tai nạn máy bay trên truyền hình sẽ thay đổi thái độ của bạn đối với chính rủi ro đó, bất kể một thực tế đã được chứng mình rằng xác suất thực sự của việc rơi máy bay là cực nhỏ, và nó là phương tiện giao thông an toàn hơn ô tô, tàu hỏa rất nhiều. Nếu bạn đang nghĩ rằng ý tưởng tin tức có thể ảnh hưởng đến tư duy và thái độ của mình thật buồn cười, rằng mình hoàn toàn có thể đọc nó mà không bị nó tác động hay làm cho mình bị lệch lạc đi thì bạn đã lầm to. Những ông chủ ngân hàng và các nhà kinh tế học, những người mà đáng lý quyết định của mình phải dựa trên lý trí và các bằng chứng thực tế thay vì xu hướng của đám đông hay sự nhảy nhót nhất thời của giá cả đã cho thấy rằng con người hành động dựa trên cảm tính nhiều thế nào và ít dùng lý trí ra sao.
Entertain a thought
Aritxtốt từng nói rằng để một tâm trí có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn một ý kiến, một quan điểm mà không phải chấp nhận, không phải tin vào nó đòi hỏi một sự giáo dục rất lớn. Vậy nếu bạn không có khả năng nhìn được tổng thể, đa chiều ở một sự kiện mình chưa hiểu thực sự rõ và không muốn để  truyền thông dắt mũi, bạn phải làm gì?
Giải pháp đơn giản nhất đó chính là cắt bỏ hoàn toàn khỏi việc tiêu thụ tin tức.
Tin tức ít có giá trị
Trong số 10 nghìn tin tức bạn đã đọc trong vòng 12 tháng trở lại đây, hãy thử kể tên điều gì đã thực sự giúp bạn tư duy tốt hơn, ra quyết định khiến cho cuộc sống của bạn tốt hơn, sự nghiệp của bạn tốt hơn? “Có đọc có hơn” là một sự lừa mị to lớn. Nếu bạn là một người thực tế, hãy để kết quả ngoài cuộc sống là câu trả lời chính xác nhất, chứ đừng là một tư duy đầy cảm tính và phổ biến sau đây : “Đọc báo không có lợi ở mặt này thì có lợi ở mặt khác, chưa phải bây giờ thì là sau này”. Như đã nói, con người không lý trí như mình nghĩ, và thực sự ít người có thể giỏi trong kiểu tư duy được-mất đó. Phần lớn bạn sẽ rơi vào nhóm những người bị mất hơn là được.
Mọi người càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm ra cái gì thực sự phù hợp cho bản thân mình, hay lớn hơn là kiểu tư duy của mình có còn phù hợp với xã hội ngày nay, với thời đại hiện giờ nữa hay không? Các tập đoàn truyền thông đưa cho bạn một giải pháp giản đơn cho câu hỏi đó : càng cập nhật những thông tin mới nhất, hiểu biết mới nhất về thế giới sẽ tạo cho bạn một lợi thế cạnh tranh to lớn so với người khác. Thế nhưng thực sự thì điều gì phù hợp với con người bạn mới giúp bạn đi đúng hướng, những điều mới nhất nhưng khiến cho bạn đi lệch khỏi bản chất của bạn chỉ tổ khiến cho bạn tốn thời gian vô ích. Tin tức không phù hợp chỉ tăng thêm tính bất lợi cho bạn mà thôi. Càng ít tiêu thụ chúng càng tốt cho bạn hơn.
Họ nói rằng nên đọc báo. Họ nói rằng nó sẽ khiến tôi tốt hơn.
Tin tức không cho bạn biết được điều gì đang thực sự diễn ra
Các mẩu tin là những cái bong bóng nhỏ nổ trên bề mặt chứ không cho bạn biết được điều gì đang tạo ra những bong bóng kia ở sâu bên dưới những gì bạn có thể nhìn thấy. Thu thập những mẩu dữ kiện đó có thể giúp bạn hiểu cách thế giới vận hành? Đáng buồn là không phải vậy. Những điều đang vận hành thế giới hay thay đổi thế giới này là những trào lưu, là những vận động ở dạng ngầm ẩn mà các nhà báo khó mà có thể phát hiện ra được.
Hãy nghĩ về những phát minh đã làm thay đổi thế giới. Trước khi chúng trở thành sự thật, trở thành một thế lực khiến giới truyền thông quan tâm đến là cả một thời kỳ dài tích lũy, nghiên cứu và phát triển trong âm thầm. Bill Gates bắt đầu được báo chí để mắt khi ông ở tầm tuổi 30, nhưng thực sự ông đã bắt đầu lập trình từ khi ông 13 tuổi. Nói cách khác một tài năng được thành hình trong lặng lẽ trong hai chục năm. Sẽ phải đòi hỏi một năng lực siêu phàm thì các nhà báo mới có thể phát hiện ra được những tài năng, những trào lưu đột phá đang âm thầm phát triển xung quanh họ. Thêm nữa, đó cũng chẳng phải việc nhà báo được trả lương phải làm. Báo chí và tin tức sẽ chỉ cho bạn biết thêm thông tin về những ai đã nổi tiếng, đã thành công  mà thôi.




Silence
“Không có tiềng kèn nào được cất lên khi những quyết định quan trọng được tạo ra. Định mệnh được tạo nên trong âm thầm”



Bạn càng tiêu hóa nhiều mẩu tin tức vụn vặt kiểu đó, bạn càng có ít hiểu biết về bức tranh toàn cảnh của vấn đề. Nếu như nhiều thông tin hơn sẽ dẫn đến thành công cao hơn trong cuộc sống thì chắc hẳn những nhà báo, những học giả hay những người giao dịch chứng khoán hay những người đọc tin tức nhiều nói chung sẽ là những người giàu có và quyền lực nhất trong xã hội. Thực tế thì khác xa như vậy.
Tin tức độc hại đối với cơ thể của bạn.
Nó liên tục kích hoạt hệ viền (limbic system) thuộc não bộ . Những câu chuyện đáng sợ thúc đẩy việc phát tán của các dòng của glucocorticoid (cortisol) . Điều này làm nhiễu loạn hệ thống miễn dịch của bạn và ức chế sự phát tán của các hormone tăng trưởng . Nói cách khác, cơ thể sẽ gặp phải tình trạng căng thẳng mãn tính (chronic stress). Các mức độ glucocorticoid cao khiến cho tiêu hóa trục trặc, xương và tóc gặp trục trặc trong khả năng phát triển và tình trạng mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm. Các tác dụng phụ có thể bao gồm sợ hãi, hung hăng, và thiếu nhạy cảm.
Tin tức làm tăng nhận thức lỗi.
Tin tức nuôi dưỡng mầm mống của một loại lỗi nhận thức phổ biến : sự củng cố thành kiến (confirmation bias). Nói như Warren Buffett: “Những gì con người làm tốt nhất là giải thích tất cả các thông tin mới làm sao cho các kết luận trước đó của họ vẫn chính xác.” Tin tức chỉ liên tục khiến bạn tin thêm vào những gì bạn đã biết trước đó. Điều đó khiến cho bạn trở nên tự tin thái quá, chấp nhận những rủi ro ngu ngốc và đánh giá sai lệch các cơ hội.
Hiện nay trên báo chí đầy rẫy những suy luận, gán ghép hết sức chủ quan và sai lệch. Nó đôi khi còn được ngụy trang bằng những gợi ý nho nhỏ, bạn nên suy nghĩ thế này, nên suy luận thế kia. Các bạn có quen thuộc với những câu chữ suy luận dạng “Công ty phá sản vì X…” “Thế giới được thay đổi bởi Y…” trong khi hoàn toàn thiếu những chứng cứ thuyết phục. Tôi đã thực sự chán ngấy khi đọc những bài báo đưa tin về 1 sự kiện diễn ra ngắn ngủn đi kèm với 1 nhận định đầy chủ quan và nguy hiểm ở cuối bài rồi. Các bạn chắc hẳn cũng chẳng xa lạ gì với điều kể trên, vậy tại sao vẫn tiếp tay cho chúng bằng việc tiếp tục đọc những tin tức kiểu đó, những tờ báo kiểu đó?
Tin tức ức chế suy nghĩ
Suy nghĩ đòi hỏi sự tập trung. Muốn tập trung được bạn cần thời gian không bị gián đoạn. Tin tức được thiết kế đặc biệt để gây sao nhãng, cản trở việc tư duy của bạn. Tin tức làm cho tư tưởng của chúng ta trở nên nông cạn.
Nhưng tin tức còn tồi tệ hơn cho khả năng ghi nhớ của bạn. Có hai loại bộ nhớ : ngắn hạn và dài hạn. Khả năng của bộ nhớ dài hạn (long-range memory) là gần như vô hạn, nhưng bộ nhớ ngắn hạn (working memory)  có giới hạn rất nhỏ. Đường đi từ trí nhớ ngắn hạn đến trí nhớ dài hạn là một nút thắt cổ chai của quá trình tư duy, nhưng bất cứ điều gì bạn muốn hiểu và ghi nhớ đều phải đi qua. Bởi vì tin tức nhồi vào trí nhớ ngắn hạn quá nhiều thông tin, khiến nó trở nên quá tải, ta sẽ chẳng nhớ và hiểu nổi thông tin nào một cách đầy đủ và tường tận. Tin tức trực tuyến thậm chí còn tệ hơn. Trong một nghiên cứu năm 2001, hai học giả Canada cho thấy khả năng hiểu giảm khi số lượng các siêu liên kết (hyperlink) trong một tài liệu tăng lên. Tại sao vậy? Bởi vì bất cứ khi nào một liên kết xuất hiện, bộ não của bạn phải chia sẻ một ít trí năng của mình để phán đoán xem có click hay không. Nói cách khác báo chí và tin tức là một hệ thống được tạo nên với mục đích làm phân mảnh và rời rạc sự tập trung cũng như tư duy của bạn : Đọc mỗi thứ một tí, chỗ này một ít, chỗ kia một tẹo.
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về cách trí nhớ ngắn hạn và dài hạn hoạt động, có thể tham khảo bài viết này, ở chương 7,8,9 : Review sách “Trí tuệ giả tạo – Internet đã làm gì chúng ta”
Tin tức thay đổi cấu trúc bộ não
Khi đã theo dõi một chủ đề nào đó, ta sẽ có xu hướng tìm đọc và cập nhật những diễn biến mới của câu chuyện đó. Hình ảnh một người đăng một post lên Facebook và refresh liên tục để xem có ai like hay bình luận gì không có quen thuộc với bạn không? Cảm giác chờ đợi thứ đó gì đó mới kiểu vậy không khác mấy cảm giác khi chúng ta nghiện thứ gì đó : thuốc lá, rượu, cờ bạc, ma túy…
Trước kia các nhà khoa học nghĩ rằng cấu trúc vật lý của bộ não từ lúc trưởng thành cho tới lúc chết là không thay đổi , tuy nhiên điều này đã được khẳng định là không đúng. Bộ não người, kể cả những người trưởng thành đều rất mềm dẻo và dễ thay đổi. Nơron liên tục cắt đứt các kết nối cũ để hình thành nên các kết nối với nơron mới và cấu trúc vật lý của bộ não cũng như thói quen tư duy của chúng ta sẽ thay đổi theo. Càng nghiện thứ gì, thứ đó lại càng trở thành thói quen ưa thích, cách tư duy ưa thích của chúng ta. Ngày nay một vấn nạn dễ thấy đó là khả năng mất tập trung và khó tiêu hóa nổi những bài viết dài. Chỉ sau 5-10 phút đọc là chúng ta không thể tập trung để đọc tiếp được nữa, trong số đó có cả những người trước kia đã từng là độc giả trung thành của những quyển sách dày. Cấu trúc bộ não của họ đơn giản là đã bị thay đổi vì thói quen đọc báo.
Tin tức làm tốn thời gian vô ích
Nếu bạn đọc báo 15 phút mỗi buổi sáng, bạn sẽ lại tiếp tục tìm kiếm những tờ báo trong 15 phút buổi trưa, và chốc chốc mỗi 5 phút bạn lại thấy mình lên các tờ báo để tìm kiếm những thông tin mới. Cuối cùng bạn mất cả đống thời gian để tìm xem có gì mới hơn trên các tờ báo nữa hay không.
Thời đại ngày nay, thông tin không còn là một thứ thiếu thốn nữa, nhưng sự tập trung thì có. Thông tin là vô hạn, nhưng thời gian của bạn thì luôn luôn là hữu hạn. Bạn sẽ chẳng bao giờ tiêu tốn một cách vô trách nhiệm với những thứ quan trọng khác như tiền bạc, sức khỏe hay danh tiếng của mình. Vậy tại sao lại hành xử thiếu trách nhiệm như vậy với thời gian và tâm trí đến vậy?
Tin tức giết chết sự sáng tạo.
Cuối cùng, những điều chúng ta đã biết hạn chế sự sáng tạo của chúng ta. Đây là một lý do khiến các nhà toán học, nhà văn, nhà soạn nhạc và doanh nhân thường tạo ra các tác phẩm sáng tạo nhất của họ khi còn trẻ. Bộ não của họ được hưởng một không gian rộng rãi và không bị chiếm chật ních bởi những thứ vô bổ, điều chẳng giúp ích gì trong việc kích thích họ sản xuất những ý tưởng mới lạ. Tôi không biết một tâm trí thật sự sáng tạo nào như nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà toán học, bác sĩ, nhà khoa học, nhạc sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư hoặc họa sĩ mà lại là một người nghiện tin tức. Mặt khác, tôi biết một loạt các tâm trí độc ác không sáng tạo, những người tiêu thụ tin tức như thuốc phiện. Nếu bạn muốn đưa ra các giải pháp cũ, hãy đọc tin tức. Nếu bạn đang tìm kiếm những giải pháp mới, đừng đọc.
Xã hội cần báo chí – nhưng theo một cách khác. Báo chí điều tra luôn luôn là cần thiết, để phơi bày những sự thật được che dấu mà chúng ta chưa được biết. Nó cũng đưa cho chúng ta biết về các chính sách mà các tổ chức, định chế quan trọng của xã hội đang thực thi. Nhưng các mẩu tin ngắn sẽ chẳng có giá trị gì. Các bài phân tích dài và các cuốn sách chi tiết là đủ cho chúng ta và một xã hội dân chủ có thể vận hành tốt.
Tôi đã trải qua bốn năm mà không có tin tức, vì vậy tôi có thể nhìn thấy, cảm nhận và tường thuật những tác động của nó một cách trực tiếp và chân thực. Tâm trí cũng như cuộc sống của tôi ít gián đoạn hơn, ít lo lắng hơn, suy nghĩ sâu sắc hơn, nhiều thời gian hơn, nhiều hiểu biết thực tế hơn. Từ bỏ việc đọc tin tức không phải dễ dàng, nhưng nó đáng giá.
Elnino dịch - Book Hunter Club


Nguồn: The Guardian

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Ích gì, Toán học ?



Có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : "Ích gì, Toán học?
Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca. 
Trong những dịp kỷ niệm 5 năm, 10 năm,… của tổ chức nào đó, người ta thường liệt kê những việc đã làm, những kết quả đạt được. Thực chất là cố gắng “chứng minh” rằng, việc thành lập cái tổ chức đó là cần thiết, rằng nó có ích. Vậy nên câu hỏi “Ích gì, Chương trình quốc gia phát triển Toán học?”, “Ích gì, VIASM?” , nếu không được phát biểu một cách công khai, thì chắc chắn cũng lởn vởn trong đầu không ít người, như nó đã từng được đặt lên bàn của những nhà hoạch định chính sách, của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Vậy nên, khi được đề nghị làm một “bài giảng đại chúng”, tôi đã chọn đề tài “Ích gì, Toán học?”. Mà người “mách nước” cho tôi chọn đề tài đó lại không là một nhà toán học, mà là… Chế Lan Viên! Hình như ông cũng đã từng trăn trở với câu hỏi “Ích gì Thơ ca? Ích gì, Nghệ thuật?”.
Ích gì? (Chế Lan Viên – Di cảo)

Khéo rồi mất giống bò sữa, hoạ mi, ngựa đua, gà chọi…
Khó gì? Ta không giữ, không nuôi thì nó mất
Giống các nhà thơ cũng vậy
Tuyết trên non cao không ai thấy,
Giống nàng tiên, ông Bụt hiện trong mơ
Mà chả cần ai giết
Chỉ thôi yêu là nó chết
Chỉ cần bâng quơ, vu vơ đặt ra câu hỏi
Trịnh trọng cái bâng quơ, vu vơ ấy
Hỏi rằng: Ích gì họa mi?
Ích gì bò sữa?
Ích gì xạ hương?
Ích gì thi sĩ?
Ích gì cái hôn?
Ích gì giấc mơ?
Ông Bụt ích gì?....


Đến nhà thơ cũng khó trả lời những câu hỏi như “Ích gì cái hôn? Ích gì thi sĩ? Ích gì giấc mơ? Ích gì ông Bụt?”, nói chi đến những người cầm túi tiền để cân nhắc đầu tư! Nhưng, nếu cứ luôn luôn đặt ra câu hỏi “Ích gì?”, lại còn “trịnh trọng” cái câu hỏi ấy, thì đến bò sữa còn chết, huống gì họa mi và giấc mơ? Với tôi, bài thơ trên còn thiếu một câu: Ích gì, Toán học?

Đối tượng của toán học: tìm về cội nguồn

Lo lắng như Chế Lan Viên cũng phải, nhưng làm sao có thể lảng tránh câu hỏi “Ích gì”? Nhất là đối với Toán học, khi nhìn sang “bên cạnh”, hình như chưa có ai đặt ra câu hỏi: “Ích gì, Vật lý? Ích gì, Sinh học?”

Ích gì, Vật lý? Dễ trả lời thôi, vì vật lý học nghiên cứu vật chất và chuyển động của chúng trong không gian và thời gian. Có ai lại không cần những kiến thức đó?

Ích gì, Sinh học? Dễ trả lời thôi, vì sinh học nghiên cứu các cơ thể sống và tương tác của chúng với môi trường. Có ai lại không cần những kiến thức đó?

Nhưng “Ích gì, Toán học? Toán học nghiên cứu cái gì?” thì lại là câu hỏi không dễ trả lời. Để hiểu đối tượng của Toán học, phải tìm về cội nguồn của nó. Tức là phải tìm đến Cơ sở của Euclid. Trước khi cuốn Cơ sở ra đời (khoảng 300 năm trước Công nguyên), Toán học chưa phải là một khoa học độc lập. Nó “lẫn” vào Triết học và Thiên văn học.

Bắt đầu với những “định nghĩa cơ bản” về những đối tượng của Toán học, trong Cơ sở -  cuốn I, Euclid đưa ra 23 định nghĩa cơ bản. Xin nhắc lại ba trong số đó, định nghĩa thứ 1, 2 và 15:
αʹ. Σημεῖόν ἐστιν, οὗ μέρος οὐθέν.
 
(1. Điểm là một cái không có kích thước)
βʹ. Γραμμὴ δὲ μῆκος ἀπλατές.

(2. Đường là cái chỉ có chiều dài, không có chiều rộng).

ιεʹ. Κύκλος ἐστὶ σχῆμα ἐπίπεδον ὑπὸ μιᾶς γραμμῆς περιεχόμενον [ἣ καλεῖται περιφέρεια], πρὸς ἣν ἀφ ̓ ἑνὸς σημείου τῶν ἐντὸς τοῦ σχήματος κειμένων πᾶσαι αἱ προσπίπτουσαι εὐθεῖαι [πρὸς τὴν τοῦ κύκλου περιφέρειαν] ἴσαι ἀλλήλαις εἰσίν.

(15. Đường tròn là một hình phẳng chỉ gồm một đường duy nhất (gọi là chu vi), (sao cho) mọi đường thẳng xuất phát (đến chu vi) từ một điểm nằm bên trong hình đều bằng nhau)
Như vậy thì, Toán học nghiên cứu những sự vật....không hề tồn tại trong thực tế! Không thể tìm ra một “vật thể” không có kích thước, cũng như không thể tìm ra một cái gì đó không có chiều rộng. Và hiển nhiên, cái đường tròn “lý tưởng” của Toán học không thể tồn tại, người ta chỉ nhìn thấy “vành nón tròn”, “Mặt trời tròn”, hay “khuôn trăng đầy đặn” của Thuý Vân!

Vậy thì, ích gì, cái khoa học nghiên cứu những sự vật không hề tồn tại? Tìm về cội nguồn lại không cho ta câu trả lời, mà ngược lại, hình như còn làm ta bối rối thêm.

Nhưng, phải chăng những gì không tồn tại trong thực tế đều vô ích, đều cần phải biến mất sau câu hỏi “Ích gì?”

Ta thử tìm về Pablo Picasso, hoạ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20. Người ta nhìn thấy Picasso không chỉ trong những bức tranh ông để lại, mà cả trong những vật dụng hằng ngày. Ông làm thay đổi quan niệm của chúng ta về cái đẹp. Và điều kỳ diệu đó Picasso làm được, khi đưa ta về tận cùng của bản chất sự vật.

 Một trong những đề tài thường gặp trong tranh Picasso là bò tót. Con bò tót, đấu bò gần như là biểu tượng của Tây Ban Nha. Nhưng trong tranh Picasso, bò tót tượng trưng cho sức mạnh u tối của chủ nghĩa phát xít Franco những năm 30 của thế kỷ trước. Ta hãy xem cách Picasso vẽ bò tót.
Nhưng đó hiển nhiên chưa phải là “con bò của Picasso” vì nó hoàn toàn giống như con bò ta vẫn nhìn thấy trên đấu trường.
Con bò nổi tiếng của Picasso “đơn giản”, và “xấu” hơn nhiều (hình 2).
Nhưng để đi đến con bò như bức vẽ của trẻ con đó, nhà hoạ sĩ vĩ đại đã phải trải qua một quá trình sáng tạo nhọc nhằn. Ta hãy xem cách ông đi từ con bò giống như thật đến con bò với nét vẽ trẻ con (hình 3).
Như vậy, Picasso đã đi từ “con bò tót” đến “khái niệm bò”! Con bò “khái niệm” của Picasso với bộ sừng đáng sợ, với bộ óc nhỏ như một “điểm” của Euclid, đã thể hiện đầy đủ cái sức mạnh ngu muội của chủ nghĩa phát xít những năm 30. Hơn hai ngàn năm trước, Euclid cũng bằng cách đó đi từ “mặt trời tròn”, “vành trăng tròn” đến cái “đường tròn” của toán học.
Cái không có trong thế giới thực tại lại mô tả chân thực nhất thế giới thực tại, vì nó đưa ta về với bản chất. Phải chăng đó là lý do giải thích việc các lý thuyết toán học cho ta công cụ mô tả chính xác thế giới tự nhiên. Nói như Galilei, Thượng đế viết nên tự nhiên bằng ngôn ngữ của toán học.
Nghề làm Toán
Nhiều người hỏi bác Tôm (René Thom, nhà toán học Pháp, giải thưởng Fields) về nghề làm Toán. Thấy khó nói quá, bác bèn kể chuyện săn rồng. Chuyện rằng, xưa bên Trung Quốc, có anh chàng học nghề đi săn. Anh chẳng chịu học săn hổ, săn lợn, mà lại học nghề săn Rồng! Nghề này khó lắm, phải thực tập nhiều. Bởi thế nên khi anh ta thạo nghề thì trên thế gian chẳng còn lấy một con Rồng nào! Có người hỏi: Bây giờ sống bằng nghề gì? Đáp: đi dạy nghề săn Rồng! Bác Tôm nói: làm Toán tức là đi dạy nghề săn Rồng vậy! (thảo nào chẳng có chú Rồng nào dám bén mảng đến nhà bác Tôm!).
Thế thì, làng nước đâu có cần cái anh săn Rồng ấy. Có còn Rồng nữa đâu mà học nghề săn rồng? Ấy chết, đừng vội nói thế. Rồng thì chẳng còn, nhưng có khi vẫn phải học nghề săn Rồng đấy. Nếu anh đi học nghề săn lợn thì chắc gì đã bắn được hổ? Mà học nghề săn hổ thì chắc gì bắn được voi? Nhưng nếu đã thạo nghề săn Rồng thì hổ, báo, sư tử, voi,…chắc chắn đều săn được tuốt! Này nhé, Rồng có thân như cá sấu, móng vuốt như hổ, đầu sư tử, ẩn hiện như trăn, vậy mà còn không thoát được tay anh săn Rồng, thì chẳng nói gì đến hổ, báo, voi, trăn, mà sau này có “nhân bản” ra con nào nữa, anh ta cũng chẳng sợ! Thành ra, đã định học nghề đi săn thì hãy cứ học nghề săn Rồng!
Từ cá sấu, hổ, sư tử, trăn,…người xưa “trừu tượng hóa” thành con Rồng. Cũng như thế, từ thực tiễn, người ta trừu tượng hóa thành Toán học. Câu chuyện đơn giản của bác Tôm mà thâu tóm được cả cái mạnh, và cái yếu, của Toán học là vậy.
Khi đã trừu tượng hoá để tìm đến bản chất, Toán học không phải bao giờ cũng dễ dàng trở về với thực tại, vốn là nơi xuất phát của nó. Thậm chí, người ta còn nghi ngờ cái khả năng nó có thể quay về với thực tại.
Bởi thế nên mới có người hỏi khích bác Tôm: “Mấy cái anh làm Toán gàn dở bịa ra những phương trình, vi phân, tích phân,…gì gì nữa nhỉ, thực tế làm gì có? Bọn họ chỉ ngồi chơi cái trò chơi trí tuệ đấy thôi”! Bác Tôm hỏi lại: “Này nhé, nếu anh đánh rơi cái nhẫn trong góc nhà kho bừa bộn, tối om, mà lại không có đèn, thì anh tìm nó ở đâu”? Anh chàng nọ ngạc nhiên: “Hỏi lạ nhỉ, thì chui vào đó mà tìm chứ ở đâu nữa”! Bác Tôm cười: “Thế thì có khi mấy tháng trời vẫn chưa tìm ra. Cứ như tôi thì tôi sẽ chạy ra dưới ngọn đèn sáng mà tìm vậy”! Anh chàng được mẻ cười vỡ bụng: “Mấy anh làm Toán gàn quá đi mất, biết tỏng tòng tong là nhẫn rơi trong góc nhà kho, mà lại ra dưới đèn tìm thì có mà suốt đời tìm cũng không thấy”. Ấy vậy mà cái anh đồ (Toán) gàn dở chẳng dại lắm đâu. Này nhé,  anh ta cầm lấy chiếc nhẫn, đứng dưới ngọn đèn mà thả cho nó rơi. Tất nhiên là tìm lại được ngay (ở đó sáng lắm). Cứ như thế mười lần, hai mươi lần, một trăm lần,…anh ta phát hiện ra quy luật: khi rơi thì cái nhẫn nói chung chạy theo hướng nào. Bởi thế lúc vào góc nhà kho tối om, anh ta tìm ra ngay chiếc nhẫn. Mà không chỉ chiếc nhẫn ấy, nhà kho ấy, mà dù chiếc nhẫn khác, rơi ở nhà kho khác cũng tối om như vậy, thì đối với anh làm Toán, tìm nó cũng chẳng khó khăn gì!
Các phương trình, các lý thuyết Toán học cũng như ngọn đèn của bác Tôm vậy. Có nó, người ta mới “làm Toán” được, tức là mới tìm ra quy luật của sự vật. Muốn trở về được với thực tiễn thì trước tiên phải biết rời xa thực tiễn, để không còn bị che lấp bởi cái rườm rà, không bản chất của đời thường.
Ba trăm năm trước bác Tôm, Newton đã từng nói: “Không có gì gần với thực tiễn hơn là một lí thuyết đẹp!
Ứng dụng Toán học
Nhưng cái câu hỏi “Ích gì, Toán học?” vẫn cứ lởn vởn đâu đây, nhất là khi nhìn những nhà toán học hàng đầu nghiên cứu những thứ hoàn toàn “xa rời thực tế” , mà ngay cả bản thân họ cũng chưa biết mình sẽ đi đến đâu.
Người ta thường hỏi nhà Toán học: Lí thuyết của anh ứng dụng vào đâu? Không phải lúc nào cũng có câu trả lời. Vào Thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, nếu ai đó hỏi Apolonius rằng nghiên cứu các đường cônic (nhận được bằng cách cắt mặt nón bởi mặt phẳng) để làm gì, thì chắc Apolonius không trả lời được. Ông ta chỉ nghiên cứu các đường cônic vì thấy là chúng “đẹp”. Không chỉ Apolonius không thể trả lời, mà hơn chục thế kỉ sau cũng không ai trả lời được. Phải chờ đến Kepler và Newton, tức là 20 thế kỉ sau, người ta mới biết ông già Apolonius đã từng làm trò chơi với các quỹ đạo chuyển động của các hành tinh! Chính vì bị ám ảnh bởi các đường cônic ngay từ thuở ấu thơ mà Kepler đã nghi ngờ kết luận của những người đi trước về quỹ đạo tròn, và đưa ra giả thuyết quỹ đạo đó là đường ellip, với hai tiêu cự rất gần nhau. Giả thuyết đã được Newton chứng minh, với định luật vạn vật hấp dẫn. “Cái đẹp”, từ chỗ không biết để làm gì, đã tìm thấy một ứng dụng vào loại vĩ đại nhất trong lịch sử, sau hơn hai ngàn năm.
Bác Tôm có lần nói: đối với những người mở đường, đừng hỏi họ đi đâu, khi người ta biết mình đi đâu, người ta không đi được xa ”quand on sait òu va, on va pas loin”. Thật thế, nếu anh định đi đến thành phố Hồ Chí Minh thì chắc là anh cũng chỉ đi đến Cà Mau là cùng. Ngay như cái anh Armstrong, biết mình đi đến Mặt trăng thì cũng chỉ đến đó thôi, rồi về. Còn bác Tôm chẳng biết mình đi đâu, nên bác có thể đi xa hơn, đến tận sao Hỏa, hay những miền đất mới của khoa học. Và chúng ta, dù không đi xa được như bác Tôm, nhưng muốn ngày mai có bát cơm ngon, thì đừng quá sốt ruột nếu hôm nay chưa “ra ngô, ra khoai” gì! Còn nếu muốn “ra ngô, ra khoai” ngay thì có khi cả đời chỉ biết ăn ngô, ăn khoai!
Vậy nhưng, nếu các lý thuyết Toán học đều phải cần đến 2000 năm sau mới có ứng dụng, thì câu hỏi “Ích gì, Toán học?” sẽ dễ nhận được câu trả lời là “Vô ích”! Dù “nhìn xa” đến mấy, người ta cũng khó nhìn đến tận…2000 năm sau!
Nhưng Toán học đi vào thực tiễn với những con đường khác nhau. Có khi 2000 năm, có khi chỉ hai năm, thậm chí chỉ cần hai tháng! Ví dụ nổi tiếng là những hệ mật mã khoá công khai, như hệ mã RSA hay hệ mã dùng  đường cong elliptic. Từ trang giấy của nhà nghiên cứu toán học đến ứng dụng vào cái điện thoại thông minh hay cái thẻ tín dụng gần như là tức thời.
Không chỉ là những ứng dụng dễ nhìn thấy, Toán học giúp cho con người luôn hướng đến sự đơn giản trong tư duy. Tư duy Toán học chính là lối tư duy loại bỏ tất cả những gì không cần thiết, những gì rườm rà. Sự tối giản chính là một tiêu chuẩn của sự tối ưu, và nhiều khi, còn là tiêu chuẩn của cái đẹp. Một lần nữa, Toán học lại rất gần với Nghệ thuật.
Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.  
Nhưng, tại sao sau tất cả những điều đã nói, vẫn tồn tại dai dẳng câu hỏi: “Ích gì, Toán học”?
Người ta hằng ngày dùng điện thoại di động để nói đủ thứ chuyện, đôi khi là để nói về cái sự vô ích của Toán học. Người ta hằng ngày dùng thẻ tín dụng để chuyển tiền, rút tiền. Nhưng sẽ không có điện thoại thông minh, không có thẻ tín dụng nếu không có mật mã khoá công khai, không có Toán học. Vậy nhưng người ta có thể vẫn rất ngại dùng tiền đó đầu tư cho Toán học, vì “Ích gì, Toán học?” Khi dùng điện thoại, khi rút tiền, không ai thấy “tích phân, vi phân, tổ hợp hay số học” trong đó. Nói khác đi, Toán học đã đến mức “trong suốt” đối với người sử dụng nó (tất nhiên chỉ khi đó nó mới được dùng cho tất cả mọi người).
Xem ra, sự “trong suốt” đôi khi lại là trở ngại lớn hơn ngọn núi!
Năm 1674  Mayow tìm thấy trong khí quyển một chất giúp cho sự sống. Năm 1773 Karl Scheele lần đầu tiên cô lập được chất khí đó. Antoine Lavoisier lặp lại thí nghiệm đó của Scheele và gọi đó là “oxygen”. Như vậy, oxy được “tìm ra” khá muộn. Tại sao? Vì nó trong suốt. Người ta hầu như không nhận thấy mình đang cần đến oxy. Và không chịu bỏ tiền ra “cho nó”.
Phải đến khi con người nhìn thấy những hình ảnh sau đây:

Đó là không khí ở Bắc Kinh. Nó không còn trong suốt nữa. Và người ta buộc phải nhìn thấy nó, buộc phải họp nhau ở Rio de Janeiro, ở Kyoto, ở Paris để bàn nhau tìm cách bỏ tiền ra làm cho nó trong suốt trở lại. Giá như người ta nhìn thấy sự cần thiết từ khi nó còn trong suốt!
“Tính” và “Toán”
Một người bạn của bác Tôm, ông F.Hirzebruch, khi trả lời phỏng vấn của các nhà báo, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học châu Âu, đã nói:
“Người ta thường hay nhấn mạnh vai trò của Toán học trong phát triển công nghệ, nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ đến lúc công nghệ phát triển để giải phóng con người, cho họ thời gian quay về với thơ ca, âm nhạc và Toán học”.
Phải chăng, Hirzebruch muốn ám chỉ rằng, trong Toán học có hai phần: “tính” và “toán”.
Nếu như tính rất cần thiết cho công nghệ, thì Toán, ngoài chức năng phát triển phần tính ra, còn góp phần làm nên Con Người, cũng giống như âm nhạc, nghệ thuật và thơ ca.
Nhưng có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : "Ích gì, Toán học?
Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca.
Hà Huy Khoái - Tiasang

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Chữ "Trí"

Hơn thua so với chính mình
      Hôm nay mình phải hơn mình hôm qua
                                                                        Đăng Học
Đọc tiếp »