This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Ích gì, Toán học ?



Có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : "Ích gì, Toán học?
Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca. 
Trong những dịp kỷ niệm 5 năm, 10 năm,… của tổ chức nào đó, người ta thường liệt kê những việc đã làm, những kết quả đạt được. Thực chất là cố gắng “chứng minh” rằng, việc thành lập cái tổ chức đó là cần thiết, rằng nó có ích. Vậy nên câu hỏi “Ích gì, Chương trình quốc gia phát triển Toán học?”, “Ích gì, VIASM?” , nếu không được phát biểu một cách công khai, thì chắc chắn cũng lởn vởn trong đầu không ít người, như nó đã từng được đặt lên bàn của những nhà hoạch định chính sách, của Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Vậy nên, khi được đề nghị làm một “bài giảng đại chúng”, tôi đã chọn đề tài “Ích gì, Toán học?”. Mà người “mách nước” cho tôi chọn đề tài đó lại không là một nhà toán học, mà là… Chế Lan Viên! Hình như ông cũng đã từng trăn trở với câu hỏi “Ích gì Thơ ca? Ích gì, Nghệ thuật?”.
Ích gì? (Chế Lan Viên – Di cảo)

Khéo rồi mất giống bò sữa, hoạ mi, ngựa đua, gà chọi…
Khó gì? Ta không giữ, không nuôi thì nó mất
Giống các nhà thơ cũng vậy
Tuyết trên non cao không ai thấy,
Giống nàng tiên, ông Bụt hiện trong mơ
Mà chả cần ai giết
Chỉ thôi yêu là nó chết
Chỉ cần bâng quơ, vu vơ đặt ra câu hỏi
Trịnh trọng cái bâng quơ, vu vơ ấy
Hỏi rằng: Ích gì họa mi?
Ích gì bò sữa?
Ích gì xạ hương?
Ích gì thi sĩ?
Ích gì cái hôn?
Ích gì giấc mơ?
Ông Bụt ích gì?....


Đến nhà thơ cũng khó trả lời những câu hỏi như “Ích gì cái hôn? Ích gì thi sĩ? Ích gì giấc mơ? Ích gì ông Bụt?”, nói chi đến những người cầm túi tiền để cân nhắc đầu tư! Nhưng, nếu cứ luôn luôn đặt ra câu hỏi “Ích gì?”, lại còn “trịnh trọng” cái câu hỏi ấy, thì đến bò sữa còn chết, huống gì họa mi và giấc mơ? Với tôi, bài thơ trên còn thiếu một câu: Ích gì, Toán học?

Đối tượng của toán học: tìm về cội nguồn

Lo lắng như Chế Lan Viên cũng phải, nhưng làm sao có thể lảng tránh câu hỏi “Ích gì”? Nhất là đối với Toán học, khi nhìn sang “bên cạnh”, hình như chưa có ai đặt ra câu hỏi: “Ích gì, Vật lý? Ích gì, Sinh học?”

Ích gì, Vật lý? Dễ trả lời thôi, vì vật lý học nghiên cứu vật chất và chuyển động của chúng trong không gian và thời gian. Có ai lại không cần những kiến thức đó?

Ích gì, Sinh học? Dễ trả lời thôi, vì sinh học nghiên cứu các cơ thể sống và tương tác của chúng với môi trường. Có ai lại không cần những kiến thức đó?

Nhưng “Ích gì, Toán học? Toán học nghiên cứu cái gì?” thì lại là câu hỏi không dễ trả lời. Để hiểu đối tượng của Toán học, phải tìm về cội nguồn của nó. Tức là phải tìm đến Cơ sở của Euclid. Trước khi cuốn Cơ sở ra đời (khoảng 300 năm trước Công nguyên), Toán học chưa phải là một khoa học độc lập. Nó “lẫn” vào Triết học và Thiên văn học.

Bắt đầu với những “định nghĩa cơ bản” về những đối tượng của Toán học, trong Cơ sở -  cuốn I, Euclid đưa ra 23 định nghĩa cơ bản. Xin nhắc lại ba trong số đó, định nghĩa thứ 1, 2 và 15:
αʹ. Σημεῖόν ἐστιν, οὗ μέρος οὐθέν.
 
(1. Điểm là một cái không có kích thước)
βʹ. Γραμμὴ δὲ μῆκος ἀπλατές.

(2. Đường là cái chỉ có chiều dài, không có chiều rộng).

ιεʹ. Κύκλος ἐστὶ σχῆμα ἐπίπεδον ὑπὸ μιᾶς γραμμῆς περιεχόμενον [ἣ καλεῖται περιφέρεια], πρὸς ἣν ἀφ ̓ ἑνὸς σημείου τῶν ἐντὸς τοῦ σχήματος κειμένων πᾶσαι αἱ προσπίπτουσαι εὐθεῖαι [πρὸς τὴν τοῦ κύκλου περιφέρειαν] ἴσαι ἀλλήλαις εἰσίν.

(15. Đường tròn là một hình phẳng chỉ gồm một đường duy nhất (gọi là chu vi), (sao cho) mọi đường thẳng xuất phát (đến chu vi) từ một điểm nằm bên trong hình đều bằng nhau)
Như vậy thì, Toán học nghiên cứu những sự vật....không hề tồn tại trong thực tế! Không thể tìm ra một “vật thể” không có kích thước, cũng như không thể tìm ra một cái gì đó không có chiều rộng. Và hiển nhiên, cái đường tròn “lý tưởng” của Toán học không thể tồn tại, người ta chỉ nhìn thấy “vành nón tròn”, “Mặt trời tròn”, hay “khuôn trăng đầy đặn” của Thuý Vân!

Vậy thì, ích gì, cái khoa học nghiên cứu những sự vật không hề tồn tại? Tìm về cội nguồn lại không cho ta câu trả lời, mà ngược lại, hình như còn làm ta bối rối thêm.

Nhưng, phải chăng những gì không tồn tại trong thực tế đều vô ích, đều cần phải biến mất sau câu hỏi “Ích gì?”

Ta thử tìm về Pablo Picasso, hoạ sĩ vĩ đại của thế kỷ 20. Người ta nhìn thấy Picasso không chỉ trong những bức tranh ông để lại, mà cả trong những vật dụng hằng ngày. Ông làm thay đổi quan niệm của chúng ta về cái đẹp. Và điều kỳ diệu đó Picasso làm được, khi đưa ta về tận cùng của bản chất sự vật.

 Một trong những đề tài thường gặp trong tranh Picasso là bò tót. Con bò tót, đấu bò gần như là biểu tượng của Tây Ban Nha. Nhưng trong tranh Picasso, bò tót tượng trưng cho sức mạnh u tối của chủ nghĩa phát xít Franco những năm 30 của thế kỷ trước. Ta hãy xem cách Picasso vẽ bò tót.
Nhưng đó hiển nhiên chưa phải là “con bò của Picasso” vì nó hoàn toàn giống như con bò ta vẫn nhìn thấy trên đấu trường.
Con bò nổi tiếng của Picasso “đơn giản”, và “xấu” hơn nhiều (hình 2).
Nhưng để đi đến con bò như bức vẽ của trẻ con đó, nhà hoạ sĩ vĩ đại đã phải trải qua một quá trình sáng tạo nhọc nhằn. Ta hãy xem cách ông đi từ con bò giống như thật đến con bò với nét vẽ trẻ con (hình 3).
Như vậy, Picasso đã đi từ “con bò tót” đến “khái niệm bò”! Con bò “khái niệm” của Picasso với bộ sừng đáng sợ, với bộ óc nhỏ như một “điểm” của Euclid, đã thể hiện đầy đủ cái sức mạnh ngu muội của chủ nghĩa phát xít những năm 30. Hơn hai ngàn năm trước, Euclid cũng bằng cách đó đi từ “mặt trời tròn”, “vành trăng tròn” đến cái “đường tròn” của toán học.
Cái không có trong thế giới thực tại lại mô tả chân thực nhất thế giới thực tại, vì nó đưa ta về với bản chất. Phải chăng đó là lý do giải thích việc các lý thuyết toán học cho ta công cụ mô tả chính xác thế giới tự nhiên. Nói như Galilei, Thượng đế viết nên tự nhiên bằng ngôn ngữ của toán học.
Nghề làm Toán
Nhiều người hỏi bác Tôm (René Thom, nhà toán học Pháp, giải thưởng Fields) về nghề làm Toán. Thấy khó nói quá, bác bèn kể chuyện săn rồng. Chuyện rằng, xưa bên Trung Quốc, có anh chàng học nghề đi săn. Anh chẳng chịu học săn hổ, săn lợn, mà lại học nghề săn Rồng! Nghề này khó lắm, phải thực tập nhiều. Bởi thế nên khi anh ta thạo nghề thì trên thế gian chẳng còn lấy một con Rồng nào! Có người hỏi: Bây giờ sống bằng nghề gì? Đáp: đi dạy nghề săn Rồng! Bác Tôm nói: làm Toán tức là đi dạy nghề săn Rồng vậy! (thảo nào chẳng có chú Rồng nào dám bén mảng đến nhà bác Tôm!).
Thế thì, làng nước đâu có cần cái anh săn Rồng ấy. Có còn Rồng nữa đâu mà học nghề săn rồng? Ấy chết, đừng vội nói thế. Rồng thì chẳng còn, nhưng có khi vẫn phải học nghề săn Rồng đấy. Nếu anh đi học nghề săn lợn thì chắc gì đã bắn được hổ? Mà học nghề săn hổ thì chắc gì bắn được voi? Nhưng nếu đã thạo nghề săn Rồng thì hổ, báo, sư tử, voi,…chắc chắn đều săn được tuốt! Này nhé, Rồng có thân như cá sấu, móng vuốt như hổ, đầu sư tử, ẩn hiện như trăn, vậy mà còn không thoát được tay anh săn Rồng, thì chẳng nói gì đến hổ, báo, voi, trăn, mà sau này có “nhân bản” ra con nào nữa, anh ta cũng chẳng sợ! Thành ra, đã định học nghề đi săn thì hãy cứ học nghề săn Rồng!
Từ cá sấu, hổ, sư tử, trăn,…người xưa “trừu tượng hóa” thành con Rồng. Cũng như thế, từ thực tiễn, người ta trừu tượng hóa thành Toán học. Câu chuyện đơn giản của bác Tôm mà thâu tóm được cả cái mạnh, và cái yếu, của Toán học là vậy.
Khi đã trừu tượng hoá để tìm đến bản chất, Toán học không phải bao giờ cũng dễ dàng trở về với thực tại, vốn là nơi xuất phát của nó. Thậm chí, người ta còn nghi ngờ cái khả năng nó có thể quay về với thực tại.
Bởi thế nên mới có người hỏi khích bác Tôm: “Mấy cái anh làm Toán gàn dở bịa ra những phương trình, vi phân, tích phân,…gì gì nữa nhỉ, thực tế làm gì có? Bọn họ chỉ ngồi chơi cái trò chơi trí tuệ đấy thôi”! Bác Tôm hỏi lại: “Này nhé, nếu anh đánh rơi cái nhẫn trong góc nhà kho bừa bộn, tối om, mà lại không có đèn, thì anh tìm nó ở đâu”? Anh chàng nọ ngạc nhiên: “Hỏi lạ nhỉ, thì chui vào đó mà tìm chứ ở đâu nữa”! Bác Tôm cười: “Thế thì có khi mấy tháng trời vẫn chưa tìm ra. Cứ như tôi thì tôi sẽ chạy ra dưới ngọn đèn sáng mà tìm vậy”! Anh chàng được mẻ cười vỡ bụng: “Mấy anh làm Toán gàn quá đi mất, biết tỏng tòng tong là nhẫn rơi trong góc nhà kho, mà lại ra dưới đèn tìm thì có mà suốt đời tìm cũng không thấy”. Ấy vậy mà cái anh đồ (Toán) gàn dở chẳng dại lắm đâu. Này nhé,  anh ta cầm lấy chiếc nhẫn, đứng dưới ngọn đèn mà thả cho nó rơi. Tất nhiên là tìm lại được ngay (ở đó sáng lắm). Cứ như thế mười lần, hai mươi lần, một trăm lần,…anh ta phát hiện ra quy luật: khi rơi thì cái nhẫn nói chung chạy theo hướng nào. Bởi thế lúc vào góc nhà kho tối om, anh ta tìm ra ngay chiếc nhẫn. Mà không chỉ chiếc nhẫn ấy, nhà kho ấy, mà dù chiếc nhẫn khác, rơi ở nhà kho khác cũng tối om như vậy, thì đối với anh làm Toán, tìm nó cũng chẳng khó khăn gì!
Các phương trình, các lý thuyết Toán học cũng như ngọn đèn của bác Tôm vậy. Có nó, người ta mới “làm Toán” được, tức là mới tìm ra quy luật của sự vật. Muốn trở về được với thực tiễn thì trước tiên phải biết rời xa thực tiễn, để không còn bị che lấp bởi cái rườm rà, không bản chất của đời thường.
Ba trăm năm trước bác Tôm, Newton đã từng nói: “Không có gì gần với thực tiễn hơn là một lí thuyết đẹp!
Ứng dụng Toán học
Nhưng cái câu hỏi “Ích gì, Toán học?” vẫn cứ lởn vởn đâu đây, nhất là khi nhìn những nhà toán học hàng đầu nghiên cứu những thứ hoàn toàn “xa rời thực tế” , mà ngay cả bản thân họ cũng chưa biết mình sẽ đi đến đâu.
Người ta thường hỏi nhà Toán học: Lí thuyết của anh ứng dụng vào đâu? Không phải lúc nào cũng có câu trả lời. Vào Thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, nếu ai đó hỏi Apolonius rằng nghiên cứu các đường cônic (nhận được bằng cách cắt mặt nón bởi mặt phẳng) để làm gì, thì chắc Apolonius không trả lời được. Ông ta chỉ nghiên cứu các đường cônic vì thấy là chúng “đẹp”. Không chỉ Apolonius không thể trả lời, mà hơn chục thế kỉ sau cũng không ai trả lời được. Phải chờ đến Kepler và Newton, tức là 20 thế kỉ sau, người ta mới biết ông già Apolonius đã từng làm trò chơi với các quỹ đạo chuyển động của các hành tinh! Chính vì bị ám ảnh bởi các đường cônic ngay từ thuở ấu thơ mà Kepler đã nghi ngờ kết luận của những người đi trước về quỹ đạo tròn, và đưa ra giả thuyết quỹ đạo đó là đường ellip, với hai tiêu cự rất gần nhau. Giả thuyết đã được Newton chứng minh, với định luật vạn vật hấp dẫn. “Cái đẹp”, từ chỗ không biết để làm gì, đã tìm thấy một ứng dụng vào loại vĩ đại nhất trong lịch sử, sau hơn hai ngàn năm.
Bác Tôm có lần nói: đối với những người mở đường, đừng hỏi họ đi đâu, khi người ta biết mình đi đâu, người ta không đi được xa ”quand on sait òu va, on va pas loin”. Thật thế, nếu anh định đi đến thành phố Hồ Chí Minh thì chắc là anh cũng chỉ đi đến Cà Mau là cùng. Ngay như cái anh Armstrong, biết mình đi đến Mặt trăng thì cũng chỉ đến đó thôi, rồi về. Còn bác Tôm chẳng biết mình đi đâu, nên bác có thể đi xa hơn, đến tận sao Hỏa, hay những miền đất mới của khoa học. Và chúng ta, dù không đi xa được như bác Tôm, nhưng muốn ngày mai có bát cơm ngon, thì đừng quá sốt ruột nếu hôm nay chưa “ra ngô, ra khoai” gì! Còn nếu muốn “ra ngô, ra khoai” ngay thì có khi cả đời chỉ biết ăn ngô, ăn khoai!
Vậy nhưng, nếu các lý thuyết Toán học đều phải cần đến 2000 năm sau mới có ứng dụng, thì câu hỏi “Ích gì, Toán học?” sẽ dễ nhận được câu trả lời là “Vô ích”! Dù “nhìn xa” đến mấy, người ta cũng khó nhìn đến tận…2000 năm sau!
Nhưng Toán học đi vào thực tiễn với những con đường khác nhau. Có khi 2000 năm, có khi chỉ hai năm, thậm chí chỉ cần hai tháng! Ví dụ nổi tiếng là những hệ mật mã khoá công khai, như hệ mã RSA hay hệ mã dùng  đường cong elliptic. Từ trang giấy của nhà nghiên cứu toán học đến ứng dụng vào cái điện thoại thông minh hay cái thẻ tín dụng gần như là tức thời.
Không chỉ là những ứng dụng dễ nhìn thấy, Toán học giúp cho con người luôn hướng đến sự đơn giản trong tư duy. Tư duy Toán học chính là lối tư duy loại bỏ tất cả những gì không cần thiết, những gì rườm rà. Sự tối giản chính là một tiêu chuẩn của sự tối ưu, và nhiều khi, còn là tiêu chuẩn của cái đẹp. Một lần nữa, Toán học lại rất gần với Nghệ thuật.
Nhà điêu khắc vĩ đại người Pháp Auguste Rodin (1840-1917) đã sáng tạo nên pho tượng bất hủ Le Penseur (Người suy tư), khắc họa hình ảnh một con người mà sự suy nghĩ căng thẳng hiện ra trên từng thớ thịt. Có người hỏi Rodin: “Làm thế nào mà ông có thể tạc nên pho tượng tuyệt vời đến vậy?”. Rodin trả lời: “Đơn giản thôi, tôi lấy một khối đá, và thấy cái gì thừa thì đẽo nó đi!”.  
Nhưng, tại sao sau tất cả những điều đã nói, vẫn tồn tại dai dẳng câu hỏi: “Ích gì, Toán học”?
Người ta hằng ngày dùng điện thoại di động để nói đủ thứ chuyện, đôi khi là để nói về cái sự vô ích của Toán học. Người ta hằng ngày dùng thẻ tín dụng để chuyển tiền, rút tiền. Nhưng sẽ không có điện thoại thông minh, không có thẻ tín dụng nếu không có mật mã khoá công khai, không có Toán học. Vậy nhưng người ta có thể vẫn rất ngại dùng tiền đó đầu tư cho Toán học, vì “Ích gì, Toán học?” Khi dùng điện thoại, khi rút tiền, không ai thấy “tích phân, vi phân, tổ hợp hay số học” trong đó. Nói khác đi, Toán học đã đến mức “trong suốt” đối với người sử dụng nó (tất nhiên chỉ khi đó nó mới được dùng cho tất cả mọi người).
Xem ra, sự “trong suốt” đôi khi lại là trở ngại lớn hơn ngọn núi!
Năm 1674  Mayow tìm thấy trong khí quyển một chất giúp cho sự sống. Năm 1773 Karl Scheele lần đầu tiên cô lập được chất khí đó. Antoine Lavoisier lặp lại thí nghiệm đó của Scheele và gọi đó là “oxygen”. Như vậy, oxy được “tìm ra” khá muộn. Tại sao? Vì nó trong suốt. Người ta hầu như không nhận thấy mình đang cần đến oxy. Và không chịu bỏ tiền ra “cho nó”.
Phải đến khi con người nhìn thấy những hình ảnh sau đây:

Đó là không khí ở Bắc Kinh. Nó không còn trong suốt nữa. Và người ta buộc phải nhìn thấy nó, buộc phải họp nhau ở Rio de Janeiro, ở Kyoto, ở Paris để bàn nhau tìm cách bỏ tiền ra làm cho nó trong suốt trở lại. Giá như người ta nhìn thấy sự cần thiết từ khi nó còn trong suốt!
“Tính” và “Toán”
Một người bạn của bác Tôm, ông F.Hirzebruch, khi trả lời phỏng vấn của các nhà báo, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học châu Âu, đã nói:
“Người ta thường hay nhấn mạnh vai trò của Toán học trong phát triển công nghệ, nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ đến lúc công nghệ phát triển để giải phóng con người, cho họ thời gian quay về với thơ ca, âm nhạc và Toán học”.
Phải chăng, Hirzebruch muốn ám chỉ rằng, trong Toán học có hai phần: “tính” và “toán”.
Nếu như tính rất cần thiết cho công nghệ, thì Toán, ngoài chức năng phát triển phần tính ra, còn góp phần làm nên Con Người, cũng giống như âm nhạc, nghệ thuật và thơ ca.
Nhưng có thể 5 năm nữa, trong dịp kỷ niệm 10 năm VIASM, chúng ta lại sẽ phải bàn về câu hỏi : "Ích gì, Toán học?
Phải chăng đó là câu hỏi vĩnh cửu, song hành với Toán học từ khi nó ra đời? Cũng như câu hỏi tương tự cũng song hành cùng Nghệ thuật và Thơ ca.
Hà Huy Khoái - Tiasang

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Chữ "Trí"

Hơn thua so với chính mình
      Hôm nay mình phải hơn mình hôm qua
                                                                        Đăng Học
Đọc tiếp »

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Bài toán cầu hôn và giải pháp cho Bộ Giáo dục

Tại ngày hội “Một ngày với Toán học” diễn ra tại Viện Toán học hôm 10/10, GS. Hà Huy Khoái đã có bài giảng “Toán học với thị trường, tuyển sinh và gả chồng dựng vợ” trước đông đảo người yêu toán. 
Bài toán gả chồng dựng vợ mà ông còn gọi là “bài toán cầu hôn” chính là thuật toán “chấp nhận trì hoãn” của Gale Shapley mà ứng dụng của GS. Alvin Roth vào lĩnh vực kinh tế đã giành giải Nobel Kinh tế năm 2012.
Thuật toán Gale Shapley được GS. Hà Huy Khoái giải thích bằng bài toán cầu hôn như sau: Có 4 chàng trai là Adam, Bob, Charlie, Don và 3 cô gái là Mary, Jane và Kate. 4 chàng trai có cảm tình với 3 cô gái theo một thứ tự ưu tiên nhất định và ngược lại 3 cô gái cũng có cảm tình với 4 chàng trai theo một thứ tự ưu tiên khác.
Và thuật toán G. Shapley sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách đưa ra phương án tốt nhất cho 4 chàng trai (hoặc 3 cô gái) dựa trên thứ tự ưu tiên của họ.
Giả sử thứ tự ưu tiên của 4 chàng trai như sau:
Bài toán cầu hôn, GS Hà Huy Khoái, tuyển sinh            

Giả sử thứ tự ưu tiên của 3 cô gái như sau:
Bài toán cầu hôn, GS Hà Huy Khoái, tuyển sinh                

Giả sử bài toán này sẽ ưu tiên quyền lợi của 4 chàng trai trước, nghĩa là để các chàng trai đưa ra lựa chọn của mình trước (nếu dựa trên ưu tiên quyền lợi của các cô gái, kết quả sẽ khác đôi chút).
Ngày đầu tiên, 4 chàng trai đi cầu hôn ưu tiên số 1 của mình, nghĩa là Bob cầu hôn Jane, và cả 3 chàng trai Adam, Charlie và Don đều cầu hôn Mary.
Mary vì có tới 3 sự lựa chọn nên sẽ chọn ưu tiên tốt nhất của mình trong số 3 chàng trai, đó là Don (ưu tiên số 1 của Mary).
Jane vì chỉ có Bob cầu hôn nên sẽ chọn Bob tạm thời (chấp nhận tạm thời). Kate chưa có ai cầu hôn trong ngày đầu tiên.
Sang ngày thứ hai, vì Mary đã chọn Don nên Adam và Charlie đi cầu hôn ưu tiên số 2 của mình. Adam cầu hôn Jane và Charlie cầu hôn Kate. Vì ưu tiên số 1 của Jane là Adam nên Jane chấp nhận Adam, loại Bob. Kate chỉ có duy nhất Charlie cầu hôn nên tạm thời chấp nhận Charlie.
Ngày thứ ba, chỉ còn Bob chưa được ai chấp nhận, Bob cầu hôn Kate. Bob là ưu tiên số 1 của Kate, trong khi Charlie là ưu tiên số 3 nên Kate chọn Bob, loại Charlie.
Như vậy, theo cách nói vui của GS. Hà Huy Khoái, cuối cùng Charlie “ế vợ”.
Quá trình “cầu hôn” và “chọn lựa” này có thể được biểu diễn bằng bảng sau:
Bài toán cầu hôn, GS Hà Huy Khoái, tuyển sinh
Bài toán cầu hôn không có thực trong cuộc sống thực tiễn nhưng cách giải quyết vấn đề của thuật toán này có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực. Theo GS. Hà Huy Khoái, giai đoạn 1945-1951, thị trường tuyển dụng bác sĩ ở Mỹ bùng nổ do nhu cầu bác sĩ ở các bệnh viện quá lớn. Hậu quả của việc các bác sĩ tự ứng tuyển và các bệnh viện tự chọn lọc theo nhu cầu của riêng mình là các bệnh viện đưa ra thời hạn chấp nhận gấp, sinh viên y khoa nhận chỗ làm quá sớm… Vì thế, Chính phủ Mỹ đã thành lập một trung tâm điều phối có tên là National Resident Matching Program (NRMP) để tiếp nhận tất cả nguyện vọng của các bác sĩ cũng như các bệnh viện, từ đó điều phối sao cho phù hợp nhất. Năm 1984, nhà kinh tế Alvin Roth phát hiện ra thuật toán của NRMP áp dụng gần với thuật toán “chấp nhận trì hoãn” của Gale Shapley.
Trước năm 2004, quá trình tuyển sinh vào các trường công ở New York áp dụng lý thuyết “chấp nhận tức khắc” cũng dẫn tới tình trạng học sinh không đăng ký nguyện vọng thật của mình. Do đó, cần có một phương án giải quyết những vấn đề trên nhằm đảm bảo tính ổn định cũng như khuyến khích sự thành thật trong việc đăng ký nguyện vọng.
GS. Hà Huy Khoái khẳng định, Bộ Giáo dục có thể áp dụng kết quả của thuật toán này vào công tác xét tuyển nguyện vọng đại học, cao đẳng để tránh tình trạng rút ra rút vào hồ sơ, gây mệt mỏi cho thí sinh như mùa tuyển sinh vừa qua.
Giống như bài toán cầu hôn, vẫn là quá trình rút ra rút vào nhưng tất cả được thực hiện bởi máy móc, phần mềm. Việc của các thí sinh là đưa ra danh sách thứ tự ưu tiên của mình, các trường cũng đưa ra thứ tự ưu tiên của mình: điểm thi, học bạ, hạnh kiểm… Với các trường đặc thù có thể là chiều cao, cân nặng, năng khiếu… Sau đó máy móc sẽ thực hiện toàn bộ quá trình rút ra rút vào đó và đưa ra một kết quả tốt nhất cho các thí sinh, đảm bảo rằng sẽ không có thí sinh nào điểm thấp hơn mình vào được trường đó mà mình không vào được.
Theo GS. Hà Huy Khoái, đây là giải pháp duy nhất cho vấn đề tuyển sinh hiện nay. Giải pháp này đảm bảo các yếu tố: cho phép các trường đề ra thứ tự ưu tiên cho mình, đảm bảo quyền lợi của học sinh: nêu nguyện vọng thật, học sinh được theo học tại trường ưu tiên cao nhất có thể theo thứ tự ưu tiên tùy thuộc kết quả của thí sinh, loại bỏ được yếu tố “ảo” và tiết kiệm chi phí.
“Chúng tôi đã thử nghiệm và cho kết quả tốt. Chỉ trong vòng 2 tiếng xứ lý được dữ liệu của 1 triệu thí sinh. Làm tất cả chỉ trong vòng 1 ngày là xong” – GS. Hà Huy Khoái khẳng định.
Ông cũng cho biết Cục Khảo thí cũng tỏ ra rất tâm đắc với phương án này và có mời ông tới nói chuyện với các trường. “Các trường tốp đầu hiểu rất nhanh và thích phương án này nhưng không hiểu sao lãnh đạo nhiều trường khác thì không muốn áp dụng. Họ bảo cứ để họ tự làm theo cách truyền thống” – ông nói.
“Tôi cũng rất tiếc vì năm vừa rồi Bộ không áp dụng. Có lẽ Bộ còn lo ngại các trường”.
GS. Hà Huy Khoái cũng cho rằng cái khó trong vấn đề này không phải là vấn đề kỹ thuật mặc dù để áp dụng vào tuyển sinh cần phải cải tiến đôi chút, mà khó nhất là thuyết phục được xã hội, làm thế nào để các phụ huynh, các em học sinh, các trường hiểu được và đồng tình. Ban đầu, giải pháp NRMP ở Mỹ cũng không phải bác sĩ nào cũng tham gia nhưng sau đó họ nhận ra không tham gia thì bị thiệt.
Ông cũng cho biết các nhà khoa học cũng đã gợi ý Bộ trước mắt dùng 80% chỉ tiêu để áp dụng thuật toán này. “ Tôi rất hy vọng năm sau Bộ sẽ áp dụng. Theo tôi đây là giải pháp duy nhất” – ông nói.
Nguyễn Thảo - VNN


 Xem thêm Bài toán hôn nhân bền vững

Lý giải đằng sau những bài toán tính gà kiểu Mỹ

Những bài toán đơn giản nhưng có lời giải khó hiểu và phức tạp thậm chí với cả người lớn gần đây được chia sẻ nhiều trên các phương tiện truyền thông của Mỹ. Đây được cho là những bài toán được giải theo quy định trong bộ Sáng kiến Tiêu chuẩn chung liên bang – Common Core State Standards Initiative (gọi tắt là Common Core).
Phụ huynh Mỹ lúng túng
Chị Jennifer Craig nhìn chằm chằm vào bài tập toán của cô con gái. Đó là một phép nhân 3 chữ số khá đơn giản. Nhưng cô con gái 10 tuổi của chị giải nó bằng cách vẽ biểu đồ, tách số, nhân, cộng và một số bước rắc rối khác.
“Tôi thấy điên đầu” – bà mẹ 31 tuổi nói.
Và đó là lý do tại sao chị có mặt trong lớp học của con gái vào tối thứ Hai, cùng với nhiều phụ huynh khác, ngồi trên những chiếc ghế trẻ con, nghe cô giáo Alyshia Thomas giảng giải về cách làm toán mới.
Hầu hết học sinh ở các trường công của Mỹ đều đang học Toán rất khác với thời của bố mẹ chúng do sự xuất hiện của Common Core.
Những thay đổi này khiến nhiều phụ huynh lúng túng khi giúp con làm bài tập về nhà, đặc biệt là những người có con học tiểu học.
Melissa Palermo là một giáo viên lớp 4 tràn đầy nhiệt huyết. Cô là người tập huấn cho các giáo viên khác cách giải Toán mới ở Trường Nathaniel Hawthorne. “Phần khó khăn nhất là bài tập về nhà bởi vì nó rất khó với các bậc phụ huynh. Nhiều phụ huynh nghi ngờ chính mình vì họ chưa từng nhìn thấy những cách giải như thế này trước đây”.
“Họ thất vọng vì không thể giúp được con mình” – Bill Hanlon, một giáo viên dạy Toán ở Las Vegas cho hay. “Một trong những thông điệp mà tôi muốn gửi tới các giáo viên là nếu bạn giao những bài tập về nhà mà phụ huynh chưa từng thấy trước đây, hãy gửi kèm một mẩu giấy giải thích việc mà chúng ta đang làm, tại sao chúng ta lại làm vậy đồng thời đưa ra vài ví dụ. Nếu không, bạn sẽ nhận được rất nhiều thắc mắc”.
Cô Diane Dunaskiss – hiệu trưởng Trường Tiểu học Pine Tree khẳng định: “Phương pháp làm toán mới khuyến khích học sinh nghĩ sâu hơn. Khi bạn hiểu mình đang học cái gì, bạn sẽ ứng dụng nó vào việc bạn đang làm trong cuộc sống thực”.
Trước đây, Toán được học theo kiểu ghi nhớ một loạt các công thức, số liệu, mẹo vặt. Các chuyên gia cho rằng hậu quả của cách học này là học sinh Mỹ phải vật lộn với môn Toán. Gần 2/3 học sinh từ lớp 4 đến lớp 8 không đạt trong các bài kiểm tra Toán quốc gia. Phương pháp Common Core khác với phương pháp cũ ở chỗ tập trung vào bản chất đằng sau các hoạt động Toán học và nhấn mạnh vào việc có nhiều cách để đưa ra cùng một câu trả lời.
Common Core kỳ vọng học sinh sẽ không chỉ tìm được đáp án mà còn giải thích được tại sao.
Tại sao cần Common Core?
Bộ tiêu chuẩn giáo dục liên bang đã có từ đầu những năm 90.
Nhưng đến đầu những năm 2000, mỗi bang lại phát triển và áp dụng những tiêu chuẩn học tập riêng của mình.
Lúc này mỗi bang đều có những khái niệm riêng về “đủ điều kiện”. Việc thiếu một chuẩn hóa chung cộng với thực tế thành tích của học sinh Mỹ khá khiêm tốn so với các quốc gia khác trên các bảng xếp hạng quốc tế là lý do tại sao các bang quyết định phát triển Common Core vào năm 2009.
Common Core là tập hợp các tiêu chuẩn học thuật cao ở môn Toán và Đọc hiểu. Common Core được tạo ra để đảm bảo rằng tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông đều có đủ kỹ năng và kiến thức cần thiết để học tốt ở đại học, để làm một công việc nào đó và để bước vào cuộc sống, bất kể các em sống ở đâu.
Bộ tiêu chuẩn này được soạn thảo bởi các chuyên gia và giáo viên trên khắp nước Mỹ. Những tiêu chuẩn này cũng là cách để giáo viên đo lường sự tiến bộ của học sinh trong suốt năm học và để đảm bảo rằng các em đang đi đúng hướng để đạt được thành công trên con đường học tập.
Tranh cãi vẫn chưa dứt
Bất chấp việc Common Core được áp dụng nhanh chóng và rộng rãi, nhóm chỉ trích vẫn phản ứng dữ dội. Một số phụ huynh đăng tải những bài toán và lời giải theo kiểu Common Core bằng giọng điệu mỉa mai, châm biếm. 

Bài toán lớp 7 khiến phụ huynh, học sinh thắc mắc

Bạn Nguyễn Thanh Như gửi đến VnExpress bài toán trong đề kiểm tra lớp 7 của con với các cách giải khác nhau.
Cách giải một là của con chị Như và một số học sinh trong lớp; cách hai của phụ huynh học sinh; cách ba của cô giáo; còn cách thứ tư là phương pháp giải của sách giáo khoa cũng như đa số sách tham khảo toán 7. 
Dưới đây là bài viết theo tinh thần của độc giả Nguyễn Thanh Như. 
bai-toan-lop-7-khien-phu-huynh-hoc-sinh-thac-mac
bai-toan-lop-7-khien-phu-huynh-hoc-sinh-thac-mac-1
Theo bạn trong 4 cách giải trên, cách nào đúng, cách nào sai và vì sao?
Qua bài viết "Bài toán lớp 7 khiến phụ huynh, học sinh thắc mắc" tôi thấy rất nhiều người quan tâm và comment trái chiều. Tôi cũng thấy hào hứng, xin góp bài viết nêu ra quan điểm của mình.
Về các lời giải thì trò sai trong việc chuyển vế, cô giáo sai vì hiểu sai khi đơn giản biểu thức, phụ huynh và sách giáo khoa giải đúng.
Vấn đề mấu chốt của bài toán chính là việc biểu thức 1/2 : 2x đơn giản thành x/4 hay là 1/4x?
Quan điểm tôi là 1/2 : 2x phải hiểu là 1/4x chứ không phải là x/4 vì:
Thứ nhất: Khi viết 2x có nghĩa tương đương 2*x, tuy nhiên nó còn có nghĩa là x phụ thuộc hoàn toàn vào số 2 trước nó. Tùy vai trò của số 2 trong biểu thức mà x phải đi theo và có ý nghĩ trong biểu thức. Như trong bài toán số 2 là số chia của phân số 1/2 nên 2x cũng phải là số chia của 1/2 luôn.
Thứ hai: Ngoài ra phép nhân có tính giao hoán 2x hay 2*x = x*2, vì vậy 1/2 : 2x có thể viết lại.
1/2 : x*2 hay 1/2 : x2.
Nếu "cụm" 2x này không hiểu nhất quán lúc này 1/2 : 2*x và 1/2 : x*2 lại khác nhau?! Vậy thì cứ quan điểm như phía trên dù có viết 1/2 : x*2 hay 1/2 : 2*x vẫn đơn giản lại là 1/4x.
Thứ ba: Về cách ra đề đối với học sinh đã học qua phân số thì nên thay các dấu tường minh "x - nhân", ": - chia" thành "." hay "/", các dấu tường minh này chỉ còn phù hợp cho học sinh cấp 1.
doc-gia-giai-bai-toan-lop-7-gay-tranh-cai
Khi ra đề nên tối giản, đưa đúng mục tiêu và trọng tâm yêu cầu đến học sinh, không nên để ghép các phép tính dễ gây hiểu nhằm, nhất là trong các phương trình. Ví dụ phương trình ax2 - b = 0 thì không cần triển khai từ số hằng a hay b hay một biểu thức loằng ngoằng bằng các phép tính + - x : của cấp 1.
Thứ tư: Các ý kiến của bạn đọc dùng kết quả thế vào để biết đúng sai thì cũng vô ích khi không thống nhất 1/2 : 2x là x/4 hay là 1/4x. Các máy tính điện tử đầu vào cũng phải theo quan điểm (1) thì mới cho kết quả đúng.
Tôi là kỹ sư phần mềm, từng học chuyên toán Amsterdam (Hà Nội) và đã được trải qua cả nền giáo dục trong, ngoài nước. Thực chất bài toán lớp 7 không phải về vấn đề toán học mà là vấn đề thống nhất quy chuẩn. Nếu không thống nhất được thì dĩ nhiên sẽ ra những kết quả khác nhau. Mọi người nhầm tưởng toán học luôn thống nhất, nhưng thực ra toán học từ xưa nay vẫn luôn tồn tại những kết quả khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Lấy ví dụ mọi người luôn được dạy x/0 không được định nghĩa, nhưng thực tế trong một số cấu trúc toán học, vẫn có thể định nghĩa được. Hoặc phép toán 1+2+3+... = -1/12 nghe có vẻ vô lý nhưng lại rất quan trọng trong lý thuyết dây (string theory). Trở lại bài toán lớp 7 này, vấn đề cơ bản gây hiểu nhầm là 1/2:2x nên được hiểu là (1/2:2)x=(1/4)x hay 1/2:(2x)=1/(4x). Trong một số nền toán học từ trước đến nay, ax luôn được ưu tiên (implied multiplication) với a được gọi là hệ số của x. Tuy nhiên, điều này dễ gây hiểu nhầm nên toán học hiện đại hầu như đã bỏ sự ưu tiên này và chỉ tuân theo quy tắc trái sang phải cho nhân chia. Điển hình như engine toán học lớn Wolfram Alpha đã bỏ implied multiplication từ năm 2013. Các bạn có thể thử 1/2x vào Wolfram Alpha sẽ cho kết quả x/2. Vấn đề thứ hai là dấu ":". Ở Việt Nam và một số nền toán học không dùng tiếng Anh thì ":" được hiểu là phép chia. Tuy nhiên thực tế là ":" được sử dụng làm tỷ lệ trong toán học hiện đại. Ví dụ 2:1:3 được hiểu là tỷ lệ giữa cam táo nho chẳng hạn, chứ không phải phép chia kết quả 2/1/3=2/3. Tỷ lệ này phải được giữ nguyên ví dụ 2x:3y là một tỷ lệ và khác với 2x/3y. Ở đây bài toán nhiều khả năng dùng ":" cho phép chia chứ không phải tỷ lệ. Nên được viết lại thành (1/2)/2x=-1/3 tức (1/4)x=-(1/3) tức x=-(4/3).
Độc giả Nguyễn Chiến Thắng chia sẻ cách nhìn của anh sau bài toán lớp 7 gây tranh cãi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 Nguồn: Vnexpress [1],[2],[3],[4]

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Nỗi xấu hổ của thế hệ trẻ?


 Mùa xuân về, chúng ta hay nói đến tuổi trẻ, đến hiền tài là nguyên khí quốc gia. Mùa xuân này, có ai thấy “nhục”, thấy cay mũi khi Việt Nam bị đánh giá là quốc gia “thiểu năng trí tuệ”.
“Lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ phát triển chậm chạp, lạc hậu so với các quốc gia trong khu vực. Nền sản xuất trong nước ít tạo ra được các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tham gia vào chuỗi các giá trị toàn cầu. Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới thuộc Liên hiệp quốc công bố bảng xếp hạng chỉ số đổi mới toàn cầu năm 2012, trong đó Việt Nam bị tụt hạng, và theo kết quả những năm gần đây, Việt Nam nằm dưới lằn ranh trung bình. Các chuyên gia trong nước vào ngoài nước cảnh báo nếu không có sự đột phá trong sáng tạo, đổi mới thù Việt Nam sẽ là một quốc gia thiểu năng trí tuệ”, đó là một đoạn trong bài xã luận “Nhân tài và thế nước” đăng trên báo Lao động số Tết.

Trong chương trình kinh tế trên VTV chiếu vào dịp Tết, một so sánh được chỉ ra: lợi nhuận bán 3 tấn gạo của Việt Nam mới đúng bằng lợi nhuận bán 1 chiếc iPhone 5 của Apple. Tức là cùng một giá trị lợi nhuận của sản phẩm, nhưng con số khối lượng sản phẩm thì chúng ta phải gấp họ tới 27.000 lần. 3 tấn gạo, là biết bao mồ hôi công sức của bao người nông dân, nhưng 1 sản phẩm iPhone 5, thì ở đó bao gồm bao nhiêu hàm lượng trí tuệ? So sáng không phải để làm giảm giá trị của sản xuất nông nghiệp, nhưng thực tế chỉ ra, nếu không có hàm lượng trí tuệ cao, thì chúng ta phải đổi lại bằng công sức lao động tay chân.

Chiếc iPhone 5 giá hơn tấn gạo và nỗi xấu hổ của thế hệ trẻ? 1
Phải bán đến cả vài tấn gạo mới thu được lợi nhuận bằng bán 1 chiếc iPhone 5. Nếu không có hàm lượng trí tuệ cao trong sản phẩm, thì chúng ta phải đổi lại bằng mồ hôi công sức lao động tay chân.

Khoa học của chúng ta phát triển chậm chạp, lạc hậu hơn so với các quốc gia trong khu vực, cái đó chẳng cần những con số thống kê làm gì, cứ đặt chân sang nước khác là ta nhìn rõ ngay những cái ta kém họ. Singapore, Thái Lan, Malaysia, về tài nguyên, họ đâu có gì hơn chúng ta, nhưng họ phát triển hơn ta ở nhiều cái, nhiều lĩnh vực. Rồi năm qua, có 1 số liệu thống kê nào đó chỉ ra, Việt Nam có rất ít những bằng sáng chế khoa học, rồi thì các công trình khoa học có ứng dụng vào thực tế, thúc đẩy sản xuất và có ý nghĩa nhân văn, cũng không nhiều.

Thanh niên, có ai cảm thấy nhục, thấy xấu hổ, trước những vấn đề trên hay không? Có ai xấu hổ, tự ái, khi Việt Nam, nếu không nỗ lực, thì sẽ trở thành một quốc gia thiểu năng trí tuệ hay không?

Con người Việt Nam không ngu si, thanh niên Việt Nam không dốt nát, cái đó là truyền thống dân tộc, là trí tuệ cha ông truyền lại, trí tuệ và lòng quả cảm của dân tộc Việt, là điều cả thế giới phải công  nhận?

Chúng ta không thiếu người tài, người giỏi, chúng ta không thiếu trí tuệ. Vậy tại sao, Việt Nam vẫn là nước kém về khoa học công nghệ? Do đâu, và ai là người giải quyết?

Không ai khác ngoài thế hệ trẻ, thế hệ đứng trước sứ mệnh lịch sử phát triển đất nước, khi được kế thừa lại thành quả bằng mồ hôi xương máu cha ông, một thế hệ những 7x,8x, 9x sướng hơn nhiều so với cha anh đi trước, sống trong hòa bình, thoải mái hơn về vật chất và đầy đủ phương tiện để bước ra thế giới hay tự sống khỏe trên quê hương mình.

Chiếc iPhone 5 giá hơn tấn gạo và nỗi xấu hổ của thế hệ trẻ? 2
Phát điên phát cuồng quá đáng, sống tự kỉ quì gối vì những cái không đáng có. Có thể trông đợi gì ở những thanh niên kém bản lĩnh sống như thế này?

Bao nhiêu vụ tai nạn giao thông chết người trong cái Tết này là do thanh niên uống rượu rồi phóng nhanh vượt ẩu? Ai đó gọi thế hệ thanh niên ở nông thôn giờ đây là thế hệ “lên nóc nhà rồi bắt con gà”, cứ nhạc vào là “bay lắc” tùm lum, phóng xe bạt mạng "đường làng là của ta". Ai đó gọi thanh niên đô thị là một thế hệ tự kỉ, suốt ngày lên facebook chém gió, than thở kêu chán rồi chửi đời. Còn “cái bọn trẻ sắp lớn” thì là những đứa trẻ hóa rồ vì các Ồ-pa Hàn Quốc, hời hợt và quên mất thậm chí quay lưng lại với các giá trị truyền thống. Đánh giá như thế là quá phiến diện, thiếu tích cực, chỉ nhìn mặt tiêu cực, nhưng nhìn lại thử xem, chẳng phải rất nhiều “thanh niên thế hệ mới” đang sống như vậy sao.

Anh diễn viên hài Quang Thắng vừa rồi đóng Táo kinh tế đã nhảy “hoang mang xì-tai” rồi hát “một năm kinh tế buồn”. Sẽ còn nhiều khó khăn trong năm Qúy Tỵ, kinh tế vẫn có nguy cơ “buồn” hơn, sẽ còn nhiều những hệ quả nếu chúng ta không sáng tạo, và vượt khó vươn lên.

Tin rằng, những bí thư chi bộ xã, nhưng doanh nhân thành đạt, những nhà khoa học tài giỏi, nhà báo, nhà văn, bác sĩ, chiến sĩ trên địa đầu Tổ quốc…những con người đáng vinh danh trong thời kì phát triển mới của Đất nước, sẽ từ những người trẻ biết nhìn xa trông rộng, biết sống có lý tưởng, nhìn xa hơn những hoài bão cá nhân, là những người trẻ, biết thấy xấu hổ, thấy nhục của ngày hôm nay.

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Trong những ngày đầu xuân, khi chúng ta cùng tưởng nhớ cua Quang Trung thắng giặc ngoại xâm, thì cũng hãy nhìn về phía trước, đặt niềm tin hơn vào thế hệ trẻ, và cũng mong thế hệ trẻ, hãy sống sao cho có ý nghĩa hơn.

Tên bài gốc "Chiếc iphone 5 giá hơn tấn gạo và nỗi xấu hổ của thế hệ trẻ?"


Theo Vnmedia

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Vẻ đẹp của người đứng một mình

“Mọi vấn đề của con người xuất phát từ chỗ họ không thể ngồi yên một mình trong phòng” - nhà toán học và triết học Pháp Blaise Pascal đã nói vậy vào giữa thế kỷ 17. 

Ảnh: mufonohio.com
Căn nguyên của các rắc rối, theo ông, là chúng ta luôn tìm cách chạy trốn bản thân. Không muốn đối diện với chính mình, tâm trí con người luôn lùng sục điều kích thích tiếp theo, như một con khỉ không thể ngừng văng mình tới cành cây trước mặt. Từ cãi vã với hàng xóm tới xung đột giữa các quốc gia, nhiều điều tệ hại bắt nguồn từ lý do này.


Đọc tiếp »